Các yếu tố môi trường tự nhiên

Một phần của tài liệu Giáo trình Một sức khỏe: Phần 1 (Trang 47 - 50)

SỨC KHỎE CỦA DAHLGREN VÀ WHITEHEAD

2.1.7. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE

2.1.7.2. Các yếu tố môi trường tự nhiên

Mối liên hệ chặt chẽ giữa sức khỏe con người và môi trường mà chúng ta đang sống đã được nhiều tác giả đề cập. Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1997) ước tính 25% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu là do môi trường gây ra. Theo Pimental và cộng sự (1998) tỷ lệ này chiếm 40% và còn tiếp tục gia tăng. Những con số thống kê trên cho thấy, chúng ta không thể nói về sức khỏe mà không xét trong mối tương quan với môi trường tự nhiên.

Các yếu tố môi trường quyết định sức khỏe có thể chia theo môi trường đô thị, môi trường nông thôn; hoặc chia theo môi trường lao động và môi trường nhà ở.

Môi trường đô thị Hiện nay gần một nửa dân số thế giới sinh sống tại khu vực đô thị. Các thành phố tạo cơ hội cho mọi người có việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe tốt hơn; đô thị cũng đóng góp rất lớn vào sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, sự tăng trưởng đô thị nhanh chóng mà không có quy hoạch toàn diện đã kéo theo hàng loạt những hiện tượng mà đô thị đang phải đối mặt, như hiện tượng nghèo đói, ô nhiễm môi trường và nhu cầu của người dân thường vượt quá khả năng của các dịch vụ. Tất cả những yếu tố này đã gây ra nhiều nguy cơ đối với sức khỏe của người dân.

Những dữ liệu nghiên cứu cho thấy một loạt các nguy cơ về sức khỏe và những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe ở khu vực đô thị như nhà ở không đạt tiêu chuẩn, sự đông đúc, ô nhiễm không khí và nước, hoặc thiếu nước, thiếu các dịch vụ vệ sinh và xử lý chất

thải, các bệnh truyền nhiễm, chất thải công nghiệp, phương tiện giao thông tăng lên, hiện tượng stress có liên quan đến nghèo khổ và thất nghiệp. Chính quyền địa phương, chính phủ các nước và các tổ chức đa quốc gia đang vật lộn với những thách thức của quá trình đô thị hóa. Những nguy cơ về sức khỏe và các yếu tố liên quan là mối quan tâm của nhiều ngành khác nhau, trong đó những cảnh báo về ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đô thị đến sức khỏe đang ngày càng thu hút sự chú ý của các ngành có liên quan.

Một số vấn đề môi trường đô thị đang phải đối mặt: Sự quá tải của dân cư đô thị, giao thông và ô nhiễm, mức độ gia tăng ô nhiễm đất, không khí và nước, hệ thống xử lý rác thải, thoát nước không hợp lý, thiếu nước sạch.

Các vấn đề môi trường được đề cập như ô nhiễm đất, không khí và nước; hệ thống xử lý rác thải, hệ thống thoát nước không hợp lý… đã trở nên đặc biệt nghiêm trọng đối với chất lượng cuộc sống của người dân (trong đó có sức khỏe). Đó là hệ quả của sự gia tăng nhanh chóng dân số và nền sản xuất đô thị mà không quan tâm tới môi trường và sức khỏe con người.

Môi trường nông thôn Nguy cơ môi trường ảnh hưởng tới sức khỏe của cộng đồng nông thôn bao gồm ô nhiễm không khí trong nhà do đốt nhiên liệu để nấu ăn và sưởi (một nguyên nhân phổ biến dẫn đến bệnh viêm phổi ở trẻ nhỏ ở các nước thế giới thứ ba), hệ thống xử lý rác thải kém, nhiễm độc thuốc trừ sâu bởi các hoạt động sản xuất nông nghiệp, thiếu nước sạch, các véc tơ truyền bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết...

Môi trường ở các vùng nông thôn Việt Nam do ảnh hưởng của sự phát triển các làng nghề và các nhà máy công nghiệp đang ngày càng trở nên ô nhiễm. Không khí bị ô nhiễm do nhiệt, tiếng ồn, hơi độc, bụi khói; không gian ngày càng bị thu hẹp do đất bị chiếm dụng để xây dựng cơ sở sản xuất, chứa nguyên vật liệu, chất đốt, sản phẩm và nhất là chất thải đủ các loại; đất và nước đang bị chất thải rắn và nước thải xâm hại. Hàng loạt các “làng ung thư” ở Hà Nội, Phú Thọ, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Nam, Hải Phòng được phát hiện và thông báo trên hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng như là tiếng chuông cảnh báo cho tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay ở nước ta.

Bên cạnh đó, tình trạng môi trường bị ô nhiễm do các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nông thôn cũng đang là vấn đề bức xúc. Môi trường nước, không khí chịu ảnh hưởng nặng nề của các loại thuốc bảo vệ thực vật do thói quen lạm dụng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dân. Sau khi phun thuốc, các dụng cụ pha chế, thậm chí cả nửa bình phun còn thừa, đều đổ cả ra ao, hồ, đồng ruộng, sông suối, gây ô nhiễm nguồn nước và các động – thực vật thủy sinh khác.

Việc phun thuốc trừ sâu không đúng kỹ thuật gây ảnh hưởng trước tiên đến chính sức khỏe của người nông dân. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng gây nên một số bệnh phổ biến mà người dân nông thôn thường mắc phải như các bệnh về da liễu, các bệnh đường hô hấp.

Môi trường lao động Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ước tính, mỗi ngày có khoảng 500 người chết tại nơi làm việc. Con số thống kê về các vụ tai nạn không gây tử

vong cao gấp 1.000 lần con số này. Các số liệu thống kê cho thấy, mức độ ảnh hưởng của các nguy cơ tại nơi làm việc đối với sức khỏe khá hơn. Phần lớn những người lao động bị thương tích và tử vong là những người làm việc trong môi trường nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp mỏ và xây dựng (Rosemary Nicholson và Peter Stephenson, 2004).

Nguy cơ ở môi trường lao động không chỉ ảnh hưởng đến những người làm trong các nhà máy, xí nghiệp đó mà còn ảnh hưởng đến những người dân sống xung quanh. Vào những năm 1970, một vụ nổ hóa chất tại một nhà máy ở Bhopal, Ấn Độ đã làm chết và làm bị thương hàng nghìn người dân sống xung quanh. Tương tự, vào những năm 1980, thảm họa Chernobyl đã làm chết hàng nghìn người và ảnh hưởng của nó còn kéo dài tới các thế hệ sau.

Tại Việt Nam, vấn đề về bệnh nghề nghiệp đang là mối quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành khi nhìn vào số lượng các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tính chất nguy hiểm và gây thiệt hại lớn ở môi trường lao động ngày càng gia tăng. Theo Cục An toàn lao động thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2016 cả nước xảy ra 7.981 vụ tai nạn lao động, trong đó có 8.251 người bị nạn, làm 862 người chết, hàng nghìn người bị thương. Tỷ lệ đó tuy có giảm so với năm 2015, nhưng theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, con số thống kê trên chưa phản ánh đầy đủ tình trạng tai nạn lao động đã xảy ra, và chỉ có 26.419/277.314 doanh nghiệp có báo cáo về tình hình lao động. Những lĩnh vực sản xuất kinh doanh xảy ra nhiều tai nạn là xây dựng chiếm 23,8%, khai thác khoáng sản 11,4%, sản xuất vật liệu xây dựng 7,4%, cơ khí chế tạo chiếm 5,9%, dịch vụ chiếm 5%, nông, lâm nghiệp chiếm 4,5%. Bệnh nghề nghiệp cũng không ngừng gia tăng trong các năm: năm 2016, hơn 3.200 người khám phát hiện có bệnh nghề nghiệp, tăng gần 24% so với năm 2015, trong đó số người mắc bệnh bụi phổi chiếm 75%.

Môi trường nhà ở Một môi trường nhà ở được xem là lành mạnh phụ thuộc vào thiết kế và kiến trúc, việc giữ gìn ngăn nắp, hệ thống cung cấp nước sạch hợp lý, hệ thống xử lý rác thải tốt, hệ thống thông gió đầy đủ…. Tổ chức Y tế Thế giới nhận định: Nhà ở là một yếu tố quan trọng của chất lượng cuộc sống, làm giảm thiểu một cách đáng kể các bệnh tật và chấn thương, từ đó giúp tâm thần và thể chất khỏe mạnh. Để có một môi trường nhà ở tốt cho đời sống gia đình, cần quan tâm chống lại những nguy cơ nảy sinh từ môi trường xã hội và cơ sở vật chất (WHO, 1997).

Bên cạnh điều kiện vật chất bên trong của nhà ở, điều kiện môi trường vật chất bên ngoài như: nhà ở gần khu công nghiệp, gần các đường phố lớn, tiếng ồn của các phương tiện giao thông (ví dụ: ở đường sắt, sân bay) cũng có ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân. Nhà ở được thiết kế và quản lý không hợp lý dẫn tới các loài gặm nhấm và các véc-tơ truyền bệnh khác có thể xâm nhập. Điều kiện nhà ở ẩm thấp và lạnh làm tăng các bệnh đường hô hấp mạn tính, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ và người già. Guest và cộng sự (1999) cho rằng, có mối tương quan đặc biệt giữa điều kiện nhà ở không đạt tiêu chuẩn và các biểu hiện rối loạn tâm lý như bạo lực, tội phạm, gây rối, lạm dụng rượu và thuốc phiện, kể cả sự tan vỡ gia đình (dẫn theo Rosemary Nicholson và Peter Stephenson, 2004).

Tuy nhiên, các điều kiện môi trường tự nhiên chịu ảnh hưởng nhiều của các quá trình xã hội thông qua quan hệ xã hội của con người. Sự ô nhiễm môi trường, sự phá vỡ cân bằng trong hệ sinh thái… đều có nguyên nhân từ quá trình quan hệ xã hội giữa cá nhân/

các nhóm xã hội nhất định.

Một phần của tài liệu Giáo trình Một sức khỏe: Phần 1 (Trang 47 - 50)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(93 trang)