Quân Minh tiến đánh nước Đại Ngu lần thứ nhất

Một phần của tài liệu Báo cáo thực tập theo dòng lịch sử việt nam đề tài tổ chức nhà nước và hoạt động đối ngoại của nhà hồ 1400 1407 (Trang 25 - 29)

C. HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA NHÀ HỒ TỪ NĂM 1400 – 1407

2. Hoạt động đối ngoại của nhà Hồ với quân Minh

2.1. Quân Minh tiến đánh nước Đại Ngu lần thứ nhất

Tháng 4 năm 1406, lấy cớ đưa Trần Thiêm Bình về nước, nhà Minh sai Hàn Quan và Hoàng Trung mang quân hộ tống để lập Trần Thiêm Bình làm vua. Minh Thực lục chép quân số đội quân của Hoàng Trung là 5000, nhưng theo Đại Việt Sử ký Toàn thư thì Hoàng Trung có tới 100.000 quân12.

 Ngày 8 tháng 4 âm lịch, Hoàng Trung đánh vào cửa Lãnh Kinh. Tả Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng dẫn hai cánh quân thủy bộ Đại Ngu đụng độ với quân Minh.

Sáng hôm đó, các quân thủy bộ giao chiến. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, quân Đại  Ngu thấy quân Minh ít hơn nên khinh suất, để bị đánh bại với tổn thất nặng nề. Nhị vệ đại tướng Phạm Nguyên Khôi, tướng chỉ huy quân Chấn Cương là Chu Bỉnh Trung, tướng chỉ huy quân Tam Phụ là Trần Huyên Huyên, Tả Thần Dực quân Trần Thái Bộc đều thua chết. Tả Tướng quốc Trừng bỏ thuyền lên bờ, suýt bị vây, có người vội dìu xuống thuyền thoát được.

12  Đại Việt sử ký toàn thư.(1998). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Chiến tranh Đại Ngu-Đại Minh (1406 - 1407)

 Nhưng đúng lúc đó, tướng Tả Thánh Dực quân Hồ Vấn mang quân từ Vũ Cao (Bắc Giang) đánh úp quân Minh. Hoàng Trung không chống nổi, đến đêm bèn rút quân về. Song các tướng Đại Ngu là Hồ Xạ và Trần Đĩnh mang quân đóng chặn ở ải Chi Lăng. Quân Minh bị mất đường về, buộc phải chấp nhận giao nộp Trần Thiêm Bình và sai Cao Cảnh đưa hàng thư, đề nghị mở đường cho về nước:

"Quan Tổng binh Hoàng sai tiểu nhân tới đây trình bày ngài biết việc này:

Trước vì Thiêm Bình chạy sang triều đình tâu rằng hắn chính là con của quốc vương An Nam, vì thế mới sai đại binh sang chiêu dụ. Không ngờ trăm họ xứ này đều không  phục, rõ ràng là hắn nói bậy. Nay lui quan quân về tâu với triều đình thì bị quan ải dọc đường ngăn giữ, nghẽn lối không qua được. Nay đem Thiêm Bình tới nộp, xin thả cho đi thì may lắm".

Hồ Xạ nhận hàng thư, bằng lòng nhận Thiêm Bình và mở vòng vây cho quân Minh rút lui. Quân Đại Ngu bắt được nhiều tù binh, đưa vào Nghệ An cho làm ruộng.

Trần Thiêm Bình bị mang về xử lăng trì. Trần Thiêm Bình bị giết khiến nhà Minh tức giận và quyết định tiến đánh nhà Hồ.

Bản đồ giai đoạn đầu cuộc chiến Minh-Đại Ngu. Đại quân Minh tiến sang, Đại  Ngu lập phòng tuyến ở bờ nam sông Hồng. Sau chiến thắng, Hồ Hán Thương thưởng công cho mỗi người 3 tư, các quan văn võ dâng biểu mừng, ông không nhận. Khi quân Minh mới vào, Đại Ngu ra lệnh cho nhân dân vùng biên giới phá bỏ hết lúa má; các xứ Lạng Châu, Vũ Ninh, Bắc Ninh, Gia Lâm, Tam Đái đều nghiêm chỉnh làm vườn không nhà trống, nay phục lại nghiệp cũ. Hồ Hán Thương sai An phủ sứ Tam giang Trần Cung Túc sang nhà Minh cầu hòa, giải thích về việc Trần Thiêm Bình, nhà Minh đã giữ toàn bộ những người này cho đến khi kết thúc cuộc chiến mới cho về.

Hồ Quý Ly bổ thêm hương quân, lấy người có phẩm tước tạm trông coi. Chiêu mộ những người vong mệnh làm quân dũng hãn, đặt các chức bách hộ, thiên hộ để cai quản. Tháng 7, năm 1406, Hồ Hán Thương sai lệnh cho các lộ đóng cọc gỗ ở phía nam sông Cái, từ thành Đa Bang đến Lỗ Giang và từ Lạng Châu đến Trú Giang để làm kế phòng thủ. Lại lệnh cho dân vùng Tam Đái, Bắc Giang tích trữ lương thực, vượt sông sang làm nhà cửa ở chỗ đất hoang, chuẩn bị di cư đến đó.

Ban đầu, Minh Thành Tổ Chu Đệ ra lệnh cho Thành quốc công Chu Năng làm Chinh di Đại tướng quân, Tín Thành hầu Trương Phụ làm hữu phó tướng, Tây Bình hầu Mộc Thạnh làm tả phó tướng, phối hợp tiến quân. Tới tháng 11 năm 1406, Chu  Năng bị nhiễm bệnh chết khi mới tới Long Châu, quyền thống lĩnh về tay Trương Phụ. Tháng 9 năm 1406, nhà Minh sai hai đạo quân xâm lược Đại Ngu. Đạo quân thứ nhất do Chinh Di phó tướng quân Tân Thành hầuTrương Phụ, Tham tướng Huỳnh Dương bá Trần Húc chỉ huy, đánh vào cửa ải Pha Lũy (cửa khẩu Hữu Nghị ngày nay), cứ một toán mai phục, một toán hành quân, thay phiên ứng cứu lẫn nhau. Đạo quân thứ hai do Chinh Di tả phó tướng quân Tây Bình hầu Mộc Thạnh, Tham hữu tướng quân Đô đốc đồng tri Phong Thành hầu Lý Bân chỉ huy, đánh vào cửa ải Phú Lệnh, xẻ núi, chặt cây mở đường tiến quân.

Về sách lược của Đại Ngu, viên hàng tướng Chiêm Thành Bố Đông khuyên với Hồ Quý Ly nên đưa quân lên biên giới đón đánh ngay quân Minh, không cho tiến sâu vào, để quân Minh ỷ vào trường binh và thông được đường tiến quân, nhưng các tướng không nghe. Theo K.W Taylor, nhà Hồ đã từ bỏ phần lớn khu vực Đông Kinh (Thăng Long) và phòng thủ ở bờ nam sông Hồng.

Đến tháng 11, quân Minh không gặp sự kháng cự nào đáng kể, hai đạo quân hội quân ở Bạch Hạc, bày doanh trại ở bờ bắc sông Cái đến tận Trú Giang. Theo Minh thực lục, ngày 19 tháng 11 năm 1406, Trương Phụ từ Bằng Tường tiến quân sang đánh nhà Hồ. Trương Phụ và Mộc Thạnh dùng danh nghĩa "Phù Trần diệt Hồ", viết  bảng văn kể tội nhà Hồ và tìm con cháu nhà Trần để phục vị, cho thả theo dòng sông.

Quân nhà Hồ trông thấy bảng văn, lại chán ghét chính sự hà khắc của nhà Hồ nên

không có lòng chống quân Minh. Các tướng Mạc Thúy, Nguyễn Huân đem 10.000 quân13 ra hàng quân Minh và được phong chức. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, những người bất đắc chí với nhà Hồ bao gồm Mạc Địch, Mạc Thúy, Mạc Viễn, Nguyễn Huân đã đón hàng quân Minh, đều được nhà Minh phong quan chức.

Quân Đại Ngu đóng quân đối diện với doanh trại quân Minh, quân ở sông Cái theo sự tiết chế của Tả Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, quân ở Trú Giang theo sự tiết chế của Thiêm văn triều chính Hồ Đỗ. Phía ngoài liên kết chiến hạm của thủy quân, trên bờ thì quân bộ đóng, nhưng hai bên vẫn chưa giao chiến trận nào. Theo sách Minh thực lục, những viên tướng nhà Hồ đầu hàng nhà Minh là Mạc Thúy, Đặng  Nguyên, Đỗ Duy Trung,... đã báo cho Trương Phụ về kế hoạch phòng thủ của nhà Hồ, họ viết cho Trương Phụ rằng: Giặc dựa vào Đông Đô, Tây Đô; cùng sự hiểm trở của các sông Tuyên, sông Thao, sông Đà, sông Phú Lương. Đường huyết mạch từ phủ Tam Giang, qua bờ phía nam sông Đà, núi Tản Viên, đến phía nam sông Phú Lương, qua sông Ninh đi sang phía đông. Lại từ bờ bắc sông Phú Lương theo sông Hải Triều

13 Đại Việt sử ký toàn thư. (1998). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

[sông Luộc], sông Hy, sông Ma Lao đến Bàn Than, núi Khốn Mai, dọc sông xây đồn.

Ải Đa Bang cho xây thêm thành đất, đồn trại nối tiếp liên hoàn dài hơn 900 dặm; bắt hết dân các châu tại Giang Bắc trên 200 vạn, gồm nam phụ lão ấu vào, để trợ thanh thế. Phía nam sông Phú Lương đều đóng cọc gỗ; tập trung các thuyền bè trong vũng nước đằng sau cọc, các cửa sông cũng đóng cọc gỗ để đề phòng công kích. Giặc  phòng bị nghiêm nhặt tại Đông Đô, thường bày voi trận, lính tráng dọc thành; rêu rao

đông đến 700 vạn.

Một phần của tài liệu Báo cáo thực tập theo dòng lịch sử việt nam đề tài tổ chức nhà nước và hoạt động đối ngoại của nhà hồ 1400 1407 (Trang 25 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(45 trang)