CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI BƯU ĐIỆN TỈNH THANH HÓA
2.1. Tổng quan về Bưu điện tỉnh Thanh Hóa
2.2.2. Tuyển dụng, sử dụng, đánh giá
2.2.2.1.Thực trạng tuyển dụng nguồn nhân lực
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác phát triển số lượng NNL được BĐT Thanh Hóa đặc biệt chú trọng và quan tâm; Chỉ tuyển dụng số lao động thật sự cần thiết cho một số phần hành công việc quan trọng (như nhân lực Công nghệ thông tin). BĐT đã xây dựng kế hoạch tuyển chọn, thông qua quá trình tuyển chọn để thu hút những người có khả năng từ nhiều nguồn khác nhau đến đăng ký, nộp đơn tìm việc làm, sau đó tổ chức thi tuyển trực tiếp để lựa chọn các ứng viên thích hợp. Việc tuyển chọn được tiến hành theo quy chế tuyển dụng của TCT, gồm: Lập kế hoạch tuyển dụng; Thông báo tuyển dụng; Nhận và sơ tuyển hồ sơ; Thi tuyển; Công nhận và thông báo kết quả thi; Ra quyết định tuyển dụng; Phân công, giao việc và người hướng dẫn.
Bảng 2.4 : Nhân lực BĐT tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2014-2016
Đơn vị tính: Người
Năm
2014 2015 2016
T.số LĐ
Tỷ lệ năm so
với trước
(%)
T.số LĐ
Tỷ lệ năm so với trước
(%)
T.số LĐ
Tỷ lệ năm so với trước
(%) Tổng số
Lao động 1130 98,0 1120 99,1 1120 100
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính, BĐT) Tổng số lao động trên không bao gồm lao động phát xã và nhân viên điểm bưu điện- văn hóa xã. Quy mô của BĐT Thanh Hóa không có biến động nhiều.
Qua bảng 2.4, ta thấy: Tổng số lao động của BĐT Thanh Hóa năm 2016 không tăng; BĐT chỉ tuyển thêm lao động để thay thế cho các đối tượng nghỉ chế độ hưu trí, chấm dứt hợp động lao động, hoặc thuyên chuyển công tác.
Tuy nhiên, hiện nay BĐT chưa tuyển được nhiều những ứng viên xuất sắc nhất do chênh lệch về thu nhập so với các DN khác trên địa bàn và do áp lực công việc của BĐT hiện nay quá lớn (so với các đơn vị như VNPT sau khi chia tách, thu nhập của CBCNV BĐT cũng thấp hơn). Mặt khác do lịch sử để lại, công tác tuyển dụng trước đây của BĐT Thanh Hóa là ưu tiên nguồn nội bộ trước (con em trong ngành); Việc tuyển dụng một cách ồ ạt (không qua thi tuyển mà chỉ xét tuyển) để ưu tiên nhận con em CBCNV đủ các điều kiện thỏa mãn chức danh trong công việc, nên số lượng NNL hiện nay đang dư thừa và hầu như chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới.
Thực tế NNL của BĐT Thanh Hóa có 3 đội ngũ chính, đó là: LĐ quản lý, LĐ trực tiếp SX, LĐ phụ trợ. LĐ quản lý bao gồm cán bộ lãnh đạo, các phòng - ban chức năng của BĐT và LĐ ở các bộ phận có chức năng quản lý của các đơn vị SX trực thuộc (như: Các BĐ huyện, Trung tâm). Tổng số LĐ quản lý của toàn BĐT hiện có146 LĐ, chiếm 18% trong tổng số LLLĐ toàn BĐT; Đây là một tỷ
lệ tương đối cao so với một số đơn vị, các BĐT - Thành và một số nước đang phát triển trong khu vực. Tuy nhiên, trong giai đoạn tới LLLĐ này cần bố trí lại cho phù hợp với điều kiện sản xuất của đơn vị và cần phải đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong điều kiện cạnh tranh, hội nhập KTQT và khu vực.
Sau chia tách, căn cứ vào kế hoạch sản lượng và doanh thu; Kế hoạch phát triển mạng lưới; Kế hoạch phát triển dịch vụ mới; Cơ chế quản lý, chế độ làm việc, nghỉ ngơi; Định mức lao động, thoả ước lao động tập thể…, BĐT Thanh Hóa đã định biên lại lao động công nghệ, lao động quản lý, lao động phục vụ, bổ sung một số ít NNL có trình độ cao thật cần thiết. Nhìn chung các ứng viên được tuyển dụng trong thời gian qua cơ bản đáp ứng được yêu cầu công việc, được đào tạo cơ bản, có năng lực, đạo đức… góp phần bổ sung lực lượng lao động có trình độ cao bị thiếu hụt do chia tách, nghỉ hưu và chuyển công tác. (Xem số liệu ở bảng 2.5)
Bảng 2.5: Số lượng lao động được BĐT tỉnh Thanh Hóa tuyển dụng giai đoạn 2014-2016
Đơn vị tính: Người Năm Tổng số lao động
tuyển dụng
Trong đó
Quản lý Công nghệ Phụ trợ
2014 0 0 0 0
2015 5 2 3 0
2016 6 4 2 0
Tổng số 11 6 5 0
(Nguồn : Phòng Tổ chức hành chính BĐT Thanh Hóa)
Có thể nhận thấy: Số lượng lao động cả giai đoạn 2014-2016 chỉ tuyển dụng có 11 LĐ có trình độ quản lý và trình độ Công nghệ tin học, nhưng các chỉ tiêu hoạt động chủ yếu của BĐT Thanh Hóa có sự tăng trưởng, theo xu thế tất yếu năm sau tăng hơn năm trước.
Biên chế lao động giai đoạn 2014-2016 không tăng, thậm chí còn giảm do LĐ đến tuổi nghỉ hưu và một số hợp đồng 11-12 tháng không có nguyện vọng tiếp tục làm việc mà chuyển sang DN khác. Tính đến thời điểm cuối năm 2016, số lượng LĐ ở BĐT Thanh Hóa có xu hướng giữ nguyên để thực hiện mục tiêu tinh gọn bộ máy nhằm hoạt động có hiệu quả. BĐT đã triển khai phương án tổ chức, sắp xếp lại LĐ trên toàn mạng lưới; Đổi mới tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và không tăng lao động, nên đến cuối năm 2016 biên chế BĐT vẫn giữ như năm 2015.
Bảng 2.6: Biến động số lượng lao động qua các năm
Đơn vị tính: Người Công việc đảm nhiệm 2014 2015 2016
Quản lý 163 163 163
Phụ trợ, phục vụ 72 72 72
Thu cước 269 268 266
Kiểm soát viên 42 42 42
Giao dịch viên 342 340 340
Khai thác 116 115 115
Lái xe thư, vận chuyển bưu chính 96 95 95
Bán hàng trực tiếp 20 20 20
Nghỉ tự túc chờ hưu, chấm dứt HĐ, chuyển công tác 10 5 7
Tổng cộng 1130 1120 1120
(Nguồn : Phòng Tổ chức hành chính BĐT Thanh Hóa) 2.2.2.1. Công tác sử dụng nguồn nhân lực
a)Xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực
* Thứ nhất, cơ cấu NNL phân theo chức năng
Thực tế NNL của BĐT Thanh Hóa có 3 đội ngũ chính, đó là : LĐ quản lý, LĐ trực tiếp SX, LĐ phụ trợ.
LĐ quản lý bao gồm cán bộ lãnh đạo, các phòng - ban chức năng của
BĐT và LĐ ở các bộ phận có chức năng quản lý của các đơn vị SX trực thuộc (như: Các BĐ Huyện, Trung tâm). Tổng số LĐ quản lý của toàn BĐT hiện có 163 người, chiếm 14,6% trong tổng số LLLĐ toàn công ty - Đây là một tỷ lệ tương đối cao so với một số đơn vị, các BĐT - Thành và một số nước đang phát triển trong khu vực. Tuy nhiên, trong giai đoạn tới lực lượng lao động này cần bố trí lại cho phù hợp với điều kiện sản xuất của đơn vị và cần phải đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong điều kiện cạnh tranh, hội nhập KTQT và khu vực.
Bảng 2.7. Nguồn nhân lực phân theo cơ cấu chức năng
Đơn vị tính: Người
TT NỘI DUNG CHỈ TIÊU 2014 2015 2016
1 Ban lãnh đạo BĐT 3 3 3
2 Trưởng ,Phó phòng BĐT 11 11 11
3 Giám đốc, Phó GĐ Đơn vị ,TTâm trực thuộc 56 56 56
4 Lao động quản lý 93 93 93
5 Tổng số lao động trực tiếp sản xuất 895 388 388
6 Tổng số lao động phục vụ và phụ trợ 72 72 72
Tổng cộng 1130 1120 1120
(Nguồn: BĐT Thanh Hóa)
Thứ hai, cơ cấu nguồn nhân lực theo trình độ chuyên môn, độ tuổi và thâm niên công tác
* Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn
Bảng 2.8. Cơ cấu lao động BĐT tỉnh Thanh Hóa theo trình độ chuyên môn Đơn vị : Người
CHỈ TIÊU Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016
LĐ % LĐ % LĐ %
Tổng số lao động 1130 1120 1120
Đại học và trên ĐH 114 10,08 159 14,23 159 14,23
Cao đẳng 46 4,06 76 6,77 76 6,77
Trung cấp 306 27,10 377 33,63 377 33,63
Sơ cấp 664 58,76 508 45,37 508 45,37
(Nguồn: Phòng Tổ chức –Hành chính, BĐT)
Qua bảng 2.8 cho thấy: Trình độ chuyên môn của lao động thuộc Bưu điện tỉnh Thanh Hóa còn ở mức khiêm tốn - Điển hình số lao động có trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 33,6%; Lực lượng sơ cấp chiếm 45,4% tổng số CBCNV. Số liệu này còn cho thấy thực trạng lao động của Bưu điện tỉnh Thanh Hóa còn nhiều bất cập - Nhất là khi khoa học công nghệ phát triển, xu thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên quyết liệt; Trong khi chất lượng lao động là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của doanh nghiệp. Để nâng cao chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp trong thời gian tới và những năm tiếp theo, Bưu điện tỉnh Thanh Hóa cần phải có chiến lược đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ (từ cấp công nhân viên trực tiếp sản xuất đến cấp quản lý) với nhiều hình thức; Dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng; Có như vậy thì chất lượng dịch vụ mới được đảm bảo và ngày càng được nâng cao.
* Cơ cấu lao động theo giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác
Việc phân tích lao động theo giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác của BĐT Thanh Hóa sẽ cho thấy cơ cấu về giới tính (nam, nữ); Độ tuổi lao động cao hay thấp, Thâm niên công tác; Kinh nghiệm tay nghề cao hay chưa có kinh nghiệm? Cơ cấu LĐ hiện nay của BĐT Thanh Hóa theo giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác cụ thể theo bảng 2.9.
Bảng 2.9: Cơ cấu LĐ theo giới tính, độ tuổi và thâm niên công tác Đơn vị tính: Người
NỘI DUNG CHỈ TIÊU 2014 2015 2016
1. Cơ cấu lao động theo giới tính
Tổng số lao động nam 280 264 224
Tổng số lao động nữ 850 856 896
2. Cơ cấu lao động theo cấu trúc độ tuổi
Lao động có độ tuổi dưới 30 178 188 224
Lao động có độ tuổi từ 30 đến 40 334 348 387
Lao động có độ tuổi từ trên 40 đến 50 243 245 196 Lao động có độ tuổi từ trên 50 đến 60 375 339 313
3. Cơ cấu LĐ theo thâm niên công tác
LĐ có thâm niên công tác dưới 5 năm 92 85 107
LĐ có thâm niên công tác từ 5 năm đến 10 năm 251 253 280
LĐ có thâm niên công tác trên 10 năm 742 735 629
4. Tổng 1130 1120 1120
(Nguồn: Phòng Tổ chức- Hành chính BĐT)
- Cơ cấu NNL theo giới tính của BĐT Thanh Hóa có sự thay đổi sau khi chia tách. Nếu ở thời điểm 2014, NNL nam có 280 người, chiếm tỷ lệ 25%; Nữ có 850 người, chiếm tỷ lệ 75% thì đến hết năm 2016, NNL nam có 224 người, chiếm tỷ lệ 20%; Nữ có 896 người, chiếm tỷ lệ 80%. Số lao động nữ chiếm tỷ lệ cao hơn so với NNL nam nếu xét trên tổng thể là phù hợp - Do tính chất hoạt động kinh doanh - phục vụ của BĐT thuộc loại công việc luôn tiếp xúc với khách hàng (như: GDV; Tiếp thị bán hàng; Thu nợ bưu điện phí; Chuyển phát công văn - báo chí, bưu gửi…) là những việc đòi hỏi sự cần mẫn, tỷ mỉ. Nhưng, trên thực tế sự phân bố NNL của BĐT không đồng đều; NNL nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực quản lý, bên cạnh đó sau khi nghỉ theo chế độ110/2007NĐ- CP thì tỷ lệ NNL nam tự nguyện đăng ký nghỉ nhiều hơn nữ; Điều này đã gây khó khăn cho BĐT trong việc tổ chức lại mạng lưới và phân công LĐ. Bởi đặc thù của ngành sản phẩm dịch vụ phải trải qua nhiều công đoạn (từ chấp nhận, tổ chức khai thác, vận chuyển rồi mới đến được khách hàng) dẫn đến tình trạng thiếu NNL nam trong khâu khai thác, vận chuyển hàng hoá - bưu gửi; Những túi kiện lớn chị em phải khuân vác, khai thác để giao cho các chuyến đường thư cấp I,II,III đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của chị em.
- Theo độ tuổi
Tính đến hết năm 2013, NNL của BĐT Thanh Hóa nằm trong độ tuổi dưới 30, chiếm tỷ lệ 20%; Độ tuổi từ 30-40 chiếm 35%; Độ tuổi trên 40-50 chiếm 17%; Độ tuổi trên 50-60 chiếm 28% trong tổng số NNL của BĐT. Như vậy, NNL trong độ tuổi từ 50 trở lên và từ 30-40 chiếm tỷ lệ cao.
Tuy nhiên, nếu so sánh cơ cấu NNL theo độ tuổi tại hai thời điểm là 2014 và 2016, thì tỷ lệ NNL trên 50 tuổi đã giảm rõ rệt - Từ 33% năm 2015 xuống còn 28% năm 2016 và độ tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ 16% năm 2014 đến năm 2016 tăng lên là 20% trong tổng số NNL của BĐT theo từng năm, đã tạo điều kiện để BĐT nâng cao chất lượng NNL.
- Theo thâm niên công tác
Xét đến kinh nghiệm làm việc theo thâm niên công tác: Năm 2014, tỷ lệ LĐ có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm 12,1%; LĐ có thâm niên công tác
từ 5 - 10 năm chiếm 22,2%; LĐ có thâm niên công tác trên 10 năm chiếm 65,7%
trong tổng số NNL của BĐT. Nhưng đến 31/12/2016, trong tổng số NNL có mặt tại BĐT Thanh Hóa là 1120 người thì số LĐ có thâm niên công tác trên 10 năm đã giảm một cách rõ rệt, chỉ chiếm 56,2% trong tổng số NNL của BĐT. Xuất hiện tình trạng này là do số LĐ nghỉ theo chế độ 110/2007 NĐ-CP đa phần là người có tuổi đời và thâm niên công tác lâu năm; Vì vậy, mặc dù tỷ lệ LĐ có tuổi đời còn trẻ tăng lên nhưng chưa có kinh nghiệm trong việc đưa ra các giải pháp để xử lý tình huống, gây khó khăn cho BĐT.
b) Công tác tổ chức lao động
Do đặc điểm sản xuất - kinh doanh trong lĩnh vực BCVT, công tác tổ chức lao động tại BĐT Thanh Hóa đã và đang được coi trọng. Các nội dung phân công lao động, hiệp tác lao động, tổ chức nơi làm việc ... BĐT Thanh Hóa đang thực hiện triển khai phương án đổi mới quản lý, khai thác, kinh doanh Bưu chính Viễn thông trên địa bàn toàn tỉnh. Trong tình hình đó, công tác tổ chức lao động ở BĐT Thanh Hóa đã thực hiện những nội dung sau:
* Phân công lao động
Đặc điểm của sản xuất kinh doanh BCVT là: Lượng tải đi - đến- qua không đồng đều; Sản phẩm BCVT không có thứ phẩm; Mạng thông tin trải rộng, nên trong công tác phân công lao động, BĐT đã thực hiện bằng các hình thức như:
- Phân công lao động toàn năng: Tức là bố trí người lao động kiêm nhiệm chức năng của một công việc và một số chức năng công việc khác được ứng dụng ở những nơi có lượng tải nhỏ, như: Các Bưu điện khu vực, huyện, thị trấn (Thanh Hóa hiện có 60 bưu cục cấp 3 và 567 điểm bưu điện văn hóa xã được phân bổ trên 27 huyện); Đối với những lao động làm nhiệm vụ thay thế, nghỉ bù, nghỉ phép,... thì người công nhân đó phải làm việc toàn năng mới có thể thay thế được. Ví dụ:
Công nhân khai thác Bưu điện phải làm toàn bộ chức năng của nghề khai thác Bưu điện (khai thác điện , thoại, Bưu chính - PHBC) và đảm bảo việc sử dụng bảo quản xử lý các hư hỏng thông thường các thiết bị khai thác nhằm đáp ứng cho quy trình thông tin liên tục, có chất lượng.
- Phân công lao động chuyên nghề: Là kiêm các chức năng trong sản xuất từng nghề (như trong sản xuất Bưu chính – PHBC) nhưng chưa đủ mức để phân công chuyên sâu. Hình thức này gồm có: Công nhân khai thác Bưu chính ( khai thác Bưu chính- PHBC, bảo dưỡng và xử lý các hư hỏng thông thường của các thiết bị Bưu chính- PHBC - Trừ các loại máy tự động) và công nhân khai thác điện thoại, điện báo( bằng mọi phương thức bảo quản, xử lý các hư hỏng thông thường các thiết bị điện báo).
Do khối lượng công việc không đồng đều nên phân công lao động còn bao hàm khái niệm điều độ lao động trong ca( giờ việc nhiều người nhiều), điều độ trong tuần( điều độ giữa ngày thường với ngày chủ nhật), điều độ lao động trong tháng( thay nghỉ phép, lễ, chủ nhật) và điều độ lao động trong năm.
* Hiệp tác lao động
Quá trình hiệp tác lao động luôn gắn liền với sự phân công lao động. Do đặc điểm sản xuất của Ngành Bưu điện đòi hỏi phải có sự hiệp tác lao động cao trên toàn mạng lưới, nên hình thức hiệp tác cơ bản trong sản xuất thông tin Bưu điện là: Chế độ điều khiển nghiệp vụ; Chế độ điều độ thông tin; Các quy trình - quy phạm kỹ thuật; Các chế độ - thủ tục khai thác.
- Thời gian làm việc:
Thời giờ làm việc trong điều kiện làm việc bình thường của người lao động Bưu điện Thanh hóa là: 08 giờ/ngày và 05 ngày (tức 40 giờ)/tuần, chia làm 02 khối:
+ Làm việc theo giờ hành chính:
Áp dụng với lao động quản lý, lao động phụ trợ các BĐ Thị trấn - Huyện.
+ Làm việc theo ca sản xuất:
Người lao động tham gia trực tiếp trong dây truyền sản xuất, kể cả kiểm soát viên doanh thác, điều hành thông tin, xử lý ứng cứu thông tin ...; Quy định ca làm việc theo nguyên tắc "giờ nhiều việc nhiều người, giờ ít việc ít người".
Tuỳ theo đặc điểm của từng cơ sở sản xuất, người phụ trách quy định số ca, giờ bắt đầu, giờ kết thúc mỗi ca, chế độ đảo ca cho phù hợp. Ca đêm chỉ áp dụng ở những nơi có nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên tục 24/24 giờ và nơi có khối
lượng công việc nhiều cần phải tổ chức làm đêm. Những nơi có khối lượng công việc ban đêm ít (hoặc không có) thì có thể áp dụng chế độ thường trực - Người làm công việc thường trực phải được cắt cử luân phiên.
Người lao động làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được giảm từ 01 đến 02 giờ làm việc mỗi ngày (theo Quyết định số 1152/QĐ- LĐTBXH, ngày 18/9/2003 của Bộ LĐTB và XH.)
- Thời giờ làm việc của thủ kho, bảo vệ, lái xe con, thu cước viễn thông:
Do công việc có tính đặc thù, Bưu điện thành phố có quy định riêng theo chế độ hiện hành nhằm đảm bảo yêu cầu công việc.
- Thời giờ làm thêm: Tổ chức sau khi đã thoả thuận với người lao động (Loại trừ lao động nữ có thai từ tháng thứ bảy. hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi). Thời giờ làm thêm không được quá 50% số giờ làm việc được quy định trong mỗi ngày đối với từng loại công việc. Tổng cộng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm trong một ngày không quá 12 giờ. Tổng số giờ làm thêm trong một năm không quá 200 giờ. Trường hợp đặc biệt (do Chính phủ quy định), Giám đốc Bưu điện thành phố có thể huy động làm thêm giờ vượt quá mức trên nhưng phải có thoả thuận của người lao động và không được vượt quá 300 giờ/năm.
- Thời giờ học tập chuyên môn - nghiệp vụ:
Đơn vị được sử dụng từ 01 đến 04 giờ/tuần khi áp dụng công nghệ mới;
đưa dịch vụ mới vào khai thác hoặc phát triển dịch vụ mới, từ 16 đến 30 giờ/năm cho các chức danh công nhân để bổ túc nghiệp vụ thi nâng bậc và huấn luyện bảo hộ lao động định kỳ hàng năm. Các trường hợp khác thực hiện theo Quy chế cử người đi đào tạo, bồi dưỡng của Bưu điện Thanh Hóa
- Thời giờ hội họp:
Thời giờ hội thảo Giám đốc Bưu điện thành phố duyệt theo yêu cầu thực tế. Giao ban giữa Giám đốc Bưu điện thành phố với trưởng các đơn vị trực thuộc là 02 giờ/tuần; Họp tổ sản xuất 01 giờ/ tuần. Tổng kết năm 04 giờ đối với Bưu điện thành phố và các đơn vị trực thuộc; 02 giờ đối với cấp đơn vị cơ sở. Các trường hợp hội họp khác đều phải được Giám đốc BĐT cho phép.