Thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Một phần của tài liệu Phân tích thị trường trái phiếu việt nam (Trang 21 - 30)

Năm 2021 tiếp tục là một năm thăng hoa của thị trường TPDN, qua đó từng bước trở thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng đối với nền kinh tế. “Quy mô thị trường Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam: ~14.75% GDP sau điều chỉnh.”9 Quy mô thị trường còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Malaysia (56% GDP), Singapore (38% GDP), Thailand (25% GDP). Dư nợ trái

9 Trích theo số liệu ABO đến hết tháng 9 năm 2021

phiếu doanh nghiệp chiếm khoảng 12% tổng dư nợ của cả nền kinh tế, tăng khoảng 11.2% so với thời điểm cuối năm 2020.

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021) Hình 2. 8. Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2021

Theo số liệu cập nhật từ dữ liệu công bố của HNX và SSC đến ngày 07/01/2022, tổng khối lượng phát hành trong nước 2021 là 658,009 tỷ đồng. Trong đó, tỷ lệ phát hành ra công chúng: 4.58% (thấp hơn rất nhiều so với năm 2020:

7.10%). Tổng số đợt phát hành trên thị trường trong nước: 1,033 đợt (tương ứng quy mô trung bình mỗi đợt phát hành: 636 tỷ đồng/đợt (gấp 2.8 lần so với năm 2020). Tổng số đợt phát hành ra quốc tế: 04 đợt – 1,425 tỷ USD (tương ứng quy mô trung bình 356.25 triệu USD/đợt)

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021) Hình 2. 9. Tỷ trọng phát hành TPDN riêng lẻ và ra công chúng năm 2021

Nhóm Ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn nhất về khối lượng phát hành, với gần 40% khối lượng trái phiếu được phát hành vào Quý 4, nhằm huy động vốn phục vụ tăng trưởng tín dụng cuối năm và tuân thủ các quy định theo Basel II.

Trái phiếu doanh nghiệp Bất động sản chiếm 35% tổng khối lượng phát hành, tiếp tục tăng mạnh về quy mô trong năm khi thị trường bất động sản tiếp tục tăng trưởng trong năm qua.

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021) Hình 2. 10. Kết quả phát hành TPDN theo nhóm ngành 2021

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt thị trường trái phiếu Việt Nam 2021) Hình 2. 11. Tỷ trọng khối lượng phát hành TPDN năm 2020 và 2021

“Trong quý I/2022, tổng giá trị TPDN phát hành đạt mức 45.374 tỷ đồng, giảm 84,9% so với quý trước, đồng thời tăng mạnh 48,3% so với cùng kỳ (svck).

Trong đó, phát hành riêng lẻ chiếm 87%, phát hành ra công chúng chiếm 13% tổng khối lượng phát hành. Tỷ lệ phát hành thành công đạt 102,6%. Có 40 doanh nghiệp (DN) phát hành tổng cộng 39.478 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ, tăng 67,2% svck, giảm 86,0% so với quý trước. Các DN có giá trị phát hành (GTPH) trái phiếu riêng lẻ lớn nhất trong quý bao gồm: CTCP Đầu tư Xây dựng Tường Khải (5.980 tỷ đồng), CTCP Xây dựng Minh Trường Phú (5.900 tỷ đồng), NH TMCP Quốc tế Việt Nam (3.948 tỷ đồng), CTCP Đầu tư và Phát triển Eagle Side (3.390 tỷ đồng). Cũng trong Q1/22, 5.896 tỷ đồng TPDN được phát hành ra công chúng, giảm 15,7% svck và giảm 68,8% so với quý trước. Các DN có giá trị phát hành lớn nhất gồm NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (2.209 tỷ đồng) và NH TMCP Bưu điện Liên Việt (1.695 tỷ đồng).”10

10 Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý I/2022

Trong quý I/2022, phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ có xu hướng giảm dần qua các tháng, với 27.115 tỷ đồng trong tháng 1, 8.193 tỷ đồng trong tháng 2 và 4.170 tỷ đồng trong tháng 3. Điều này trái ngược với tình hình trong Quý 1 năm 2021, khi các đợt phát hành trái phiếu riêng lẻ có xu hướng tăng dần trong vài tháng. Chúng tôi cho rằng nguyên nhân chính là do Thông tư 16/2021/TTNHNN có hiệu lực từ ngày 15/01/2022. Thông tư 16/2021/TT-NHNN áp dụng các quy định chặt chẽ hơn đối với các tổ chức tài chính khi mua bán trái phiếu doanh nghiệp, nâng cao chất lượng tổ chức phát hành.

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý I/2022) Hình 2. 12. Giá trị và tỷ lệ phát hành thành công TPDN theo tháng

Bất động sản là nhóm ngành có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 40,2% tổng lượng phát hành trong Q1/2022, trị giá 15,86 nghìn tỷ đồng, tăng 25,2% về tổng lượng, tăng 86,5% so với quý trước (giảm 86,5% so với quý trước). Những công ty bất động sản giá trị nhất gồm CTCP Đầu tư và Phát triển Eagle Side (3,93 nghìn tỷ đồng), CTCP Đầu tư Hưng Thịnh (2 nghìn tỷ đồng) và CTCP Phát triển Địa ốc Đất Việt (1,6 nghìn tỷ đồng).

Xây dựng là ngành lớn thứ hai chiếm 34,8% tổng lượng phát thải, trị giá 13,72 nghìn tỷ đồng (tăng 119,2% so với quý trước và gấp hơn mười lần giá trị). Các công ty xây dựng tin rằng họ đang đẩy nhanh tiến độ bàn giao các dự án cơ sở hạ tầng và nhà ở sau một thời gian chững lại do dịch bệnh vào năm 2021. Ngoài 2 công ty trên,

CTCP Xây dựng Minh Trường Phú (800 tỷ đồng) cũng lọt top 3 công ty xây dựng phát thải lớn nhất trong quý 1/2022.

Tài chính - Ngân hàng đứng thứ ba với tỷ trọng 18,8% trong tổng lượng phát hành, trị giá 7.403 tỷ đồng, giảm mạnh 92,0% so với quý trước, nhưng vẫn giảm 68,1% so với svck. Ngoài Ngân hàng TMCP Quốc tế, top 3 doanh nghiệp trong nhóm phát hành nhiều nhất còn có CTCP Tập đoàn Đầu tư IPA (1 nghìn tỷ đồng) và Ngân hàng TMCP Á Châu (650 tỷ đồng).

Các ngành khác (không bao gồm xây dựng) chiếm 6,3% tổng lượng trái phiếu phát hành riêng lẻ trong quý, trị giá 2.495 tỷ đồng (giảm 95,8% theo quý, giảm 25,1% về tổng thể). Đáng chú ý có hai doanh nghiệp trồng cao su phát hành trái phiếu riêng lẻ lớn nhất là Công ty TNHH MTV Cao su An Thịnh (650 tỷ đồng) và Công ty TNHH MTV Đầu tư Cao su Cường Thịnh (545 tỷ đồng).

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý I/2022) Hình 2. 13. Cơ cấu TPDN phát hành theo tháng trong quý I/2022

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý I/2022) Hình 2. 14. Tỷ trọng TPDN riêng lẻ phát hành theo ngành trong quý I/2022

Tính đến hết quý I 2022, theo số liệu từ NHNN, tỷ lệ dư nợ TPDN trên tổng dư nợ cả nền kinh tế đạt khoảng 11.4%, giảm khoảng 15.7% so với thời điểm cuối 2021. “Tổng khối lượng phát hành trái phiếu trong Quý II 2022 đạt 106,735 tỷ đồng.”11 Tỷ lệ phát hành riêng lẻ chiếm 99,72% và chỉ có 1 đợt phát hành ra công chúng trị giá 300 tỷ đồng chiếm 0,28%. Hầu hết các đợt phát hành được thực hiện trong tháng 6 với giá trị 40.446 tỷ đồng, chiếm 37,9% tổng lượng phát hành trong Q2/2022.

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý II/2022)

11 Theo dữ liệu công bố của HNX và SSC đến ngày 08/07/2022

Hình 2. 15. Tỷ trọng phát hành TPDN riêng lẻ và công chúng quý II/2022

“Trong Quý II 2022, tổng khối lượng phát hành giảm khoảng 45% so với cùng kỳ năm 2021, chủ yếu do lượng phát hành nhóm Bất động sản giảm mạnh (giảm 83.4%).”12

Nhóm ngân hàng dẫn đầu về khối lượng phát hành, với tổng khối lượng phát hành là 78.039 tỷ đồng, tăng 5% so với quý II/2021. Các ngân hàng thương mại tiếp tục huy động vốn để cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR). Đây cũng là mục tiêu duy trì hạn mức tín dụng, sớm đạt mục tiêu Basel II và III.

Đứng thứ hai là bất động sản với giá trị phát hành là 10.533 tỷ đồng, giảm 83,4% so với cùng kỳ năm trước. Độ lớn giảm mạnh, một phần do bất động sản không còn “nóng” như năm 2021 nhưng giá có dấu hiệu chững lại trong quý II/2022.

(Nguồn: Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý II/2022) Hình 2. 16. Tỷ trọng phát hành TPDN theo nhóm ngành quý II/2022

12 Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý II/2022

“Trong quý III/2022, tổng giá trị TPDN phát hành đạt mức 60.635 tỷ đồng, giảm mạnh 50,5% so với quý trước, giảm mạnh 70,9% svck. Tỷ lệ phát hành thành công đạt 98,9%. Trong đó, tỷ lệ trái phiếu phát hành riêng lẻ và công chúng lần lượt là 97,4% và 2,6%.”13

Trong quý III, 42 công ty (DN) đã phát hành tổng cộng 59.320 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ, giảm mạnh 51,7% so với quý trước, giảm 71,1% về tổng lượng phát hành. Các ngân hàng đều là những công ty phát hành trái phiếu riêng lẻ (GTPH) lớn nhất trong quý, bao gồm: Chứng khoán ngân hàng thương mại công thương (4.210 tỷ đồng). Trong khi đó, trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra công chúng trị giá 1.603 nghìn tỷ đồng, tăng 434,4% so với cùng kỳ, tăng so với mức thấp của năm ngoái, chủ yếu tập trung vào nhóm ngân hàng thương mại cổ phần.

Trong Q3, tài chính-ngân hàng là nhóm ngành chiếm 82,5% tổng lượng trái phiếu phát hành riêng lẻ, trị giá 48.683 tỷ đồng (giảm 39,5% theo quý, giảm 37,9%

về svck). Ngoài 3 ngân hàng hàng đầu kể trên, các tổ chức tài chính có khối lượng phát hành lớn nhất gồm Ngân hàng TMCP Á Châu (3,8 nghìn tỷ đồng), Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (3,8 nghìn tỷ đồng)… cũng có mặt. 369,4 tỷ đồng), Ngân hàng TMCP Quân đội (363 tỷ đồng),...

Bất động sản chiếm 13,7% tổng giá trị phát hành trái phiếu riêng lẻ, đạt 8.091 tỷ đồng (giảm đáng kể 45,9% so với Q2/2022, giảm 90,9% về lượng). Các công ty BĐS phát hành riêng lẻ nhiều nhất trong quý gồm Công ty TNHH No Va Thảo Điền (2,3 nghìn tỷ đồng), CTCP Đầu tư và Phát triển Du lịch Phú Quốc (2.285,6 tỷ đồng) và CTCP Fuji Nutri Food (1.000 tỷ đồng).

Nhóm liên ngành ghi nhận giá trị phát hành riêng lẻ giảm mạnh nhất, khoảng 1,5 nghìn tỷ đồng (giảm 89,5% so với Q2/2022).

Các ngành khác chiếm 1,3% tổng lượng phát hành trái phiếu riêng lẻ trong quý, trị giá 758 tỷ đồng (giảm 94,0% theo quý). Cụ thể, Công ty cổ phần Sản xuất và Kinh doanh Vinfast phát hành 300 tỷ đồng với kỳ hạn 3 năm và Công ty TNHH Khai thác và Chế biến Núi Pháo phát hành 290 tỷ đồng với kỳ hạn 5 năm.

13 Báo cáo thị trường trái phiếu Việt Nam quý III/2022

Một phần của tài liệu Phân tích thị trường trái phiếu việt nam (Trang 21 - 30)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(36 trang)
w