Chương 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THAM QUAN - HƯỚNG DẪN KHÁCH DU LỊCH TẠI CÁC ĐIỂM DU LỊCH VĂN HOÁ CHĂM NINH THUẬN
2.2. Thực trạng tổ chức hoạt động tham quan
2.2.2. Hoạt động tham quan du lịch
Theo số liệu thống kê của sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Ninh Thuận, lượng khách đến tham quan, nghỉ dưỡng ngày càng nhiều. Được thể hiện qua:
Biểu đồ 3: Hiện trạng lượng khách du lịch đến Ninh Thuận giai đoạn 2005 - 2011
Nguồn: Quyết định số 70/2011/QĐ-UBND ngày 22/12/2011 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận 5 năm (2011 - 2015).
Tổng lượt khách du lịch đến Ninh Thuận giai đoạn 2005 - 2011 ngày càng tăng với tốc độ tăng trưởng cả giai đoạn đạt 24,28%/năm; năm 2011 đạt 820.500 lượt khách.
Biểu đồ 4: Hiện trạng lượng khách du lịch quốc tế đến Ninh Thuận từ 2005 – 2011
Nguồn: Quyết định số 70/2011/QĐ-UBND ngày 22/12/2011 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận 5 năm (2011 - 2015).
Lượng khách du lịch quốc tế đến Ninh Thuận giai đoạn 2005 - 2011 có xu hướng tăng với tốc độ tăng trưởng cả giai đoạn đạt 28,05%/năm. Năm 2011 lượng khách quốc tế đến Ninh Thuận đạt 62.150 lượt khách, chiếm 7,6% lượt khách du lịch đến Ninh Thuận. Số ngày lưu trú của khách quốc tế ngày càng tăng, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2005 - 2011 đạt 6,12%/năm.
Biểu đồ 5:Hiện trạng lượng khách du lịch nội địa đến Ninh Thuận từ 2005 – 2011
Nguồn: Quyết định số 70/2011/QĐ-UBND ngày 22/12/2011 của UBND tỉnh ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận 5 năm (2011 - 2015).
Khách nội địa cũng tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2005 - 2011 đạt 24%/năm. Năm 2011 lượng khách nội địa đạt 758.350 lượt khách, gấp 3,64 lần so với năm 2005.
Khách du lịch nội địa chủ yếu từ các đô thị lớn và có thành phần khá đa dạng.
Phần lớn khách du lịch nội địa ưu du lịch biển, tham quan các danh lam thắng cảnh, tham quan tiềm hiểu văn hoá Chăm.
Việc chú trọng phát triển du lịch nội địa đã góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch cho địa phương; hạn chế tác động khủng hoảng quốc tế, khu vực đến du lịch Ninh Thuận nói riêng và Việt Nam nói chung.
Trong đó tháp Po Klong Garai, là một trong những điểm du lịch văn hóa thu hút khách du lịch nhiều hiện nay tại Ninh Thuận.
Bảng 2.2: Bảng thống kê lƣợng khách và doanh thu hàng năm tại khu di tích tháp Po Klong Garai
ĐVT
Năm
2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
- Lƣợng khách Lượt 49.839 50.097 39.008 44.229 38.789 41.218 51.303 + Quốc tế Lượt 17.931 12.185 6.519 5.527 2.815 2.628 3.240 + Nội địa Lượt 31.908 37.912 32.489 38.702 35.974 38.590 42.094 - Doanh thu Triệu
đồng
329,850 559,764 496.318 540.818 454.405 570.996 648.104 + Phí tham quanTriệu đồng 249,195 404,030 390,080 442.290 387.890 431,854 600.010 + Dịch vụ Triệu đồng 80,655 155,734 1106.238 98.522 66.515 139,142 248.104 (Nguồn: Bảo tàng tỉnh Ninh Thuận, Ban quản lý di tích và Danh thắng tỉnh Ninh Thuận)
Theo bảng thống kê của ban quản lý di tích cho thấy lượng khách nội địa đến với di tích vẫn ổn định nhưng lượng khách quốc tế giảm một cách đáng kể, kéo theo tổng lượng khách đến với di tích tháp Po Klong Garai giảm từ năm 2009 đến nay.
Trong bối cảnh khôi phục và khởi sắc của hoạt động du lịch ở Ninh Thuận, loại hình du lịch văn hóa cũng được đưa vào khai thác và đạt được những kết quả nhất định, đóng góp một phần vào tổng thu nhập của ngành du lịch Ninh Thuận. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều điều đáng lưu ý:
- Lượng khách tham gia lễ hội Kate tăng đều lên so với các năm. Điều này thể hiện công tác quảng bá trung tâm xúc tiến du lịch, chỉ đạo của tỉnh về phát triển du lịch lễ hội đang làm là hướng đi đúng, tiếp tục phát huy hơn nữa.
- Nhìn tổng lượng khách đến với di tích tháp Po Klong Garai 2007-2008 tăng, nhưng đến năm 2009 có sụt giảm do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế. Từ năm 2010 – 2012 tăng nhẹ trở lại.
- Đối với điểm tham quan du lịch tháp Po Klong Garai, là điểm tham quan du lịch có diện tích khá rộng và lượng khách tương đối đông tuy nhiên đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm của điểm tham quan này tương đối mỏng, vì vậy điểm tham quan du lịch này chỉ cung cấp dịch vụ hướng dẫn cho những đoàn khách của cơ quan nhà nước giới thiệu và đăng ký trước. Đây cũng là niềm trăn trở của nhà quản lý tại đây.
- So sánh thống kê 2.2 với biểu đồ 4: Hiện trạng lượng khách du lịch quốc tế đến Ninh Thuận giai đoạn 2005 – 2011, thì tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến với Ninh Thuận luôn tăng, cả giai đoạn đạt 28,05%/năm. Nhưng lượng khách quốc tế đến với tháp Po Klong Garai có xu hướng giảm sút mạnh, năm 2008 là 12.185 lượt, năm 2012 chỉ còn 2.628 lượt, giảm xuống 78,4%. Như vậy loại hình du lịch tìm hiểu các giá trị văn hóa Chăm nói riêng, văn hóa ở Ninh Thuận nói chung vẫn chưa thu hút khách du lịch quốc tế, chưa hấp dẫn với khách nội địa.
- Doanh thu tại tháp không tăng, ổn định theo từng năm. Doanh thu chủ yếu là từ bán vé tham quan. Những dịch vụ du lịch xung quanh các di tích vẫn chưa phong phú và thu hút để kích thích khách du lịch chi tiêu.
- Cơ cấu lượng khách du lịch với mục đích tìm hiểu các giá trị văn hóa qua các năm là rất thấp chỉ đạt 5% so với các loại hình du lịch khác. Như vậy loại hình du lịch tìm hiểu các giá trị văn hóa Chăm ở Ninh Thuận vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa phát huy hết tiềm năng và thị trường cho loại hình du lịch này hiện nay là rất lớn.
Bảng 2.3: Bảng thống kê lượng khách du lịch đến tham dự lễ hội Kate của người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận (ƣớc lƣợng một số năm)
ĐVT
Năm
2007 2008 2009 2010 2011
Lƣợt khách Lượt 5.000 7.000 8.000 9.000 11.000 (Nguồn: Ban Quản lý di tích và danh thắng tỉnh Ninh Thuận)
Theo bảng số liệu thống kê cho thấy số lượng du khách đến Tháp Po Klong Garai tăng ổn định theo từng năm vào các dịp lễ hội Kate. Vì vậy, việc cố gắng để
tăng lượng khách du lịch đến với tháp nhân dịp lễ hội Kate trong những năm sắp tới là một điều có thể thực hiện được.
Từ khảo sát thực tế đối với du khách tại các điểm du lịch văn hoá Chăm, tác giả đã thu được những kết mang tính định lượng phản ánh thực trạng, hình thức chuyến tham quan...của khách du lịch. Từ những số liệu thu thập được về mức độ mong muốn tiếp cận đối với những giá trị văn hoá tại các điểm du lịch văn hoá từ đó làm căn cứ cho những đề xuất của mình. Kết quả tác giả thu thập được từ việc tổng hợp phiếu khảo sát khách du lịch như sau:
- Mức độ thông tin của du khách biết đến các điểm du lịch văn hoá Chăm: Số lượng du khách chưa được biết tới 40 phiếu (16%); Đã từng được biết 180 phiếu (72%); Biết nhiều thông tin về các điểm du lịch văn hoá Chăm 30 phiếu (12%).
- Số lượng du khách đã từng đến tham quan tháp Po Klong Garai 10 phiếu (4%), làng dệt thổ cẩm Chăm Mỹ Nghiệp 40 phiếu (16%), làng gốm Bàu trúc 70 phiếu (28%), tất cả các điểm du lịch trên 130 phiếu ( 52% )
- Hình thức du khách tới tham quan các điểm du lịch văn hoá Chăm: Tự tổ chức 80 phiếu (32%), đi theo tour du lịch 170 phiếu (68%)
- Mục đích của du khách tới các điểm du lịch văn hoá Chăm: Tham quan và tìm hiểu về lịch sử 63 phiếu (25%), khám phá bí ẩn của nền văn hoá Chăm 25 phiếu (10%), tham gia vào các lễ hội truyền thống 20 phiếu (8%), cả 3 ý kiến trên 142 phiếu (57%).
- Những thông tin du khách được HDV cung cấp khi đến các điểm du lịch văn hoá Chăm: Lịch sử và văn hoá 15 phiếu (6%), kiến trúc và nghệ thuật 35 phiếu (14%), văn hoá làng nghề truyền thống 60 phiếu (24%), cả ba ý kiến trên 140 phiếu (56%).
- Du khách biết tới những thông tin về các điểm du lịch văn hoá Chăm thông qua: Hướng dẫn viên du lịch tuyến 90 phiếu (36%), hướng dẫn viên du lịch tại điểm 10 phiếu (4%), qua người thân, bạn bè 50 phiếu (20%), phương tiện thông tin đại chúng 100 phiếu (40%).
- Mức độ cần thiết HDV tại điểm: rất cần thiết 150 phiếu (60%), cần thiết 100 phiếu (40%), không cần thiết 0 phiếu (0%).
- Điều gây ấn tượng với du khách khi đến tham quan các điểm du lịch văn hoá Chăm: phong tục tập quán 38 phiếu (15%), có kiến trúc đẹp, cổ kính 40 phiếu (16%), nét độc đáo của làng nghề truyền thống 127 phiếu (51%), lễ hội truyền thống 45 phiếu (18%).
- Với các điểm du lịch văn hoá Chăm du khách thích thú nhất với điểm du lịch: tháp Po Klong Garai 65 phiếu (26%), làng dệt thổ cẩm truyền thống Mỹ Nghiệp 30 phiếu (12%), làng gốm truyền thống Bàu Trúc 145 phiếu (58%), các điểm du lịch khác 10 phiếu (4%).
- Để hoạt động du lịch tại các điểm du lịch văn hoá Chăm hấp dẫn hơn: Xây dựng các sản phẩm dịch vụ phong phú tại các điểm tham quan và khu vực lân cận 35 phiếu (14%); Tổ chức tham quan, hướng dẫn khoa học hơn 40 phiếu (16%);
Nâng cao công tác quản lí 37 phiếu (15%); Cả 3 ý kiến trên 138 phiếu (55%).
- Đề xuất biện pháp để địa phương có nên áp dụng loại hình du lịch Homestay tại các điểm du lịch văn hoá Chăm có 250 phiếu trả lời có (100%), và 0 phiếu trả lời không (0%).
- Đề xuất hình thức sinh hoạt văn hóa kết hợp trong các tour du lịch tại các điểm du lịch văn hoá Chăm: Nghệ thuật truyền thống 100 phiếu (40%); phục hồi các nghi thức lễ hội 50 phiếu (20%); dựng lại các trò chơi dân gian 95 phiếu (64%);
Ý kiến khác 5 phiếu (2%) đề xuất hình cả ba hình thức trên.
Qua kết quả trên có thể thấy những thông tin về giá trị văn hoá của các điểm du lịch văn hoá Chăm được nhiều du khách biết tới. Nhưng những thông tin này được du khách biết đến vẫn còn nhiều hạn chế. Trong khí đó sự truyền tải thông tin từ những HDV, các hình thức truyền thông còn nhiều hạn chế, chưa phản ánh được hết những nét đẹp, những điểm đặc sắc, độc đáo về các điểm du lịch văn hoá Chăm trong các phần thông tin thuyết minh. Một trong những yêu cầu cấp thiết của du khách trong quá trình thực hiện chương trình tham quan, hướng dẫn tại các điểm du lịch văn hoá Chăm là cần bố trí đội ngũ HDV tại điểm. Từ đó, du lịch Ninh Thuận mới có thể nâng cao chất lượng thông tin được cung cấp đến cho du khách thông qua hoạt động tổ chức tham quan – hướng dẫn tại các điểm du lịch văn hoá Chăm.