4.2.1. Kết quả nhiễm sắc thể ở thai dị tật tim bẩm sinh 4.2.1.3. Kết quả nhiễm sắc thể
Đánh giá về NST thai chúng tôi ghi nhận được những kết quả như sau: có 364 thai phụ đồng ý thực hiện kỹ thuật Karyotyping, trong đó tỷ lệ phát hiện bất thường NST là 29,67%. 299 thai phụ đồng ý thực hiện kỹ thuật BOBS, trong đó tỷ lệ phát hiện bất thường NST là 31,10%. Tỷ lệ các bất thường NST ở thai có dị tật TBS là 136/370 (36,76%). Đặc điểm bất thường NST của thai dị tật TBS bao gồm: Bất thường về số lượng NST là 91/136 (66,91%), trong đó trisomy 18 chiếm tỷ lệ cao nhất với 62,6%; bất thường về cấu trúc NST là 45/136 (33,1%), trong đó mất đoạn NST chiếm tỷ lệ cao với 48,9%. Kết quả nghiên cứu của Đỗ Quang Anh (2010), tỷ lệ thai nhi dị tật TBS có bất thường NST là 48%, trisomy 18 chiếm tỷ lệ cao nhất 58,3%. Trong nghiên cứu của Lê Văn Tuyến (2014), chỉ có 57 (36%) thai phụ có thai dị tật TBS đồng ý chọc ối với tỷ lệ bất thường là 12,3%. Trong nghiên cứu của Luo và cộng sự (2018) có tỷ lệ bất thường NST ở thai dị tật TBS là 140/362 (38,7%). Báo cáo của tác giả Cai và cộng sự (2018) phân tích Karyotyping tỷ lệ thai dị tật TBS có bất thường NST là 19/146 – 13,01%. Khi áp dụng thuật CNV phát
hiện thêm 22 trường hợp bất thường (15,2%), trong số này 15 trường hợp là gây bệnh, 3 trường hợp là các biến thể không chắc chắn có ý nghĩa lâm sàng và 4 trường hợp là lành tính. Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi áp dụng hai kỹ thuật Karryotyping và BOBS, đã xác định tỷ lệ cao bất thường NST ở thai dị tật tim bẩm sinh.
4.2.2. Mối liên quan giữa bất thường nhiễm sắc thể với các nhóm dị tật tim bẩm sinh
Đánh giá mối liên quan giữa bất thường NST và nhóm dị tật TBS đơn giản/phức tạp có tỷ lệ bất thường NST ở nhóm thai có dị tật TBS đơn giản có tỷ lệ 42,13% cao hơn so với nhóm dị tật TBS phức tạp (30,64 %), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,022. Một số nghiên cứu khác cũng không ghi nhận mối liên quan giữa bất thường NST và loại dị tật TBS. Trong nghiên cứu của tác giả Wu và cộng sự (2017), phân tích NST ở những trẻ dị tật TBS, kết quả ghi nhận tỷ lệ trẻ mắc dị tật TBS đơn giản và phức tạp lần lượt là 58,7% (61/104) và 41,3% (43/104). Bất thường NST ở 31,1% trẻ mắc dị tật TBS đơn giản và 23,2% dị tật TBS phức tạp (p>0,05); Tỷ lệ phát hiện bất thường NST trong dị tật TBS đơn thuần và dị tật TBS theo hội chứng lần lượt là 17,9% và 33,8% (p> 0,05).
Kết quả của chúng tôi khi phân tích tỷ lệ bất thường NST ở nhóm thai có phối hợp bất thường cơ quan khác là 59,26 % cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có phối hợp (23,83%). Tỷ lệ bất thường NST ở nhóm thai dị tật TBS đơn giản có phối hợp cơ quan khác cao hơn tỷ lệ của nhóm dị tật TBS đơn giản không phối hợp cơ quan khác (60,8% so với 24,0%, p < 0,001). Như vậy, các trường hợp có dị tật phối hợp các cơ quan có khả năng gặp bất thường NST. Tác giả Qui và cộng sự (2020) cũng ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê: tỷ lệ bất thường NST 41/103 (39,8%) ở nhóm có phối hợp cơ quan so với 7/132 (5,3%), (p< 0,001). Tác giả Cai và cộng sự báo cáo trong số 36 thai nhi có TBS với bất thường ngoài tim, phân tích Karyotype xác định được bất thường NST ở 10 trường hợp (27,8%).
4.2.3. Đặc điểm nhiễm sắc thể ở một số dị tật tim bẩm sinh thường gặp
4.2.3.1. Đặc điểm nhiễm sắc thể ở dị tật thông liên thất.
Kết quả của chúng tôi ghi nhận tổng số 213 thai dị tật thông liên thất bao gồm thông liên thất đơn thuần và thông liên thất phối hợp với dị tật tim khác, hoặc bất thường cơ quan khác, hoặc cả hai. Tỷ lệ bất thường NST ở thai có dị tật thông liên thất là 38,03%. Tác giả Du và
cộng sự (2013), nghiên cứu trên 214 thai thông liên thất. Đánh giá NST 126 trường hợp, trong đó có 46/126 (36,5%) có bất thường NST. Nguy cơ NST bất thường trong các trường hợp có phối hợp tại tim và tại cơ quan khác cao hơn đáng kể so với nhóm thông liên thất đơn thuần (p
<0,01). Trong nghiên cứu của Cai và cộng sự (2018), phân tích Karyotyping đã xác định được 16 bất thường NST trong 151 trường hợp thông liên thất.
4.2.3.2. Đặc điểm nhiễm sắc thể ở dị tật tứ chứng Fallot
Tỷ lệ bất thường NST ở thai tứ chứng Fallot là 37,33%. Tỷ lệ bất thường NST ở thai tứ chứng Fallot phối hợp cơ quan cao hơn ở thai tứ chứng Fallot không phối hợp cơ quan (58,8% so với 31,0%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,037. Chúng tôi nhận thấy rằng khi phối hợp 2 kỹ thuật xét nghiệm NST đã xác định tỷ lệ lớn thai tứ chứng Fallot có bất thường NST. Hội chứng vi mất đoạn 22q11.2 (hội chứng DiGeorge) và Trisomy 21 chiếm khoảng 15% và 7% của tất cả các trường hợp tứ chứng Fallot. Trong nghiên cứu cộng gộp của Zhao Y (2016), tổng số 622 trường hợp tứ chứng Fallot có số lượng bất thường NST như sau: 4% trisomy 21; 3,2% trisomy 18;
3,7% trisomy 13; 13,5% hội chứng Digeorge và các bất thường NST khác chiếm 5%; như vậy tỷ lệ bất thường NST ở những trường hợp tứ chứng Fallot chiếm 29,4%. Nghiêu cứu của Liu L (2016) trên 86 bệnh nhân tứ chứng Fallot, phát hiện 11 trường hợp có các bất thường như vi mất đoạn, nhân đoạn ở những vùng NST như 22q11,21; 12p12.3p12.2; 14q23.2q23.3; 1q21.1q21.2; 1q42.13…
4.2.3.3. Đặc điểm nhiễm sắc thể ở dị tật thông sàn nhĩ thất
Tỷ lệ bất thường NST ở thai có dị tật thông sàn nhĩ thất là 15/33, 45,45%. Dị tật thông sàn nhĩ thất thường gặp ở một số trường hợp bất thường NST như: trisomy 21, trisomy 9, trisomy 18. Tác giả Abuhamad A (2012) báo cáo 50 % bệnh nhân dị tật thông sàn nhĩ thất có bất thường NST là trisomy 21, và 30% trong số đó là thông sàn nhĩ thất toàn bộ. Một nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cũng có nguy cơ dị tật thông sàn nhĩ thất ở những bệnh nhân mắc hội chứng Noonan. Đặc điểm được thấy ở những bệnh nhân mắc hội chứng Noonan khác với những bệnh nhân bị hội chứng Down ở chỗ là ở hội chứng Noonan thì thường gặp thông sàn nhĩ thất một phần, trong khi ở hội chứng Down thì đa số gặp là thông sàn nhĩ thất toàn bộ.
4.2.3.4. Đặc điểm nhiễm sắc thể ở dị tật chuyển gốc động mạch
Biểu đồ 3.12, ghi nhận chỉ 2/21 trường hợp thai dị tật chuyển gốc động mạch bất thường NST. Báo cáo của tác giả Gurleen Sharland, chuyển gốc động mạch thường xảy ra đơn độc và hiếm khi đi kèm theo bất thường NST, dù rằng bất thường ngoài tim có thể xuất hiện kèm theo (5%), các bất thường ngoài tim bao gồm: mỏm tim bên phải, tật đốt sống một nửa, đầu hình quả chanh, dạ dày ở bên phải.
Những trường hợp chuyển gốc động mạch kèm theo thông liên thất thì bất thường NST chiếm 2%, trong đó có 2 trường hợp có bộ NST 47XXX. Hơn 4% có bất thường ngoài tim như teo tá tràng và các bất thường thận.
4.2.3.5. Đặc điểm nhiễm sắc thể ở dị tật thiểu sản tim
Tỷ lệ bất thường NST ở thai có dị tật thiểu sản tâm thất là 2/20 (10,0%). Zakaria và cộng sự (2018), nghiên cứu trên 5721 trẻ sơ sinh có hội chứng thiểu sản tim trái: 282 (5%) có bất thường NST. Ba bất thường NST phổ biến nhất là hội chứng Turner (25%), DiGeorge (22%) và Down (12,7%). Một số loại bất thường NST được xác định ở dị tật thiểu sản tim trái: nhân đoạn 8p, chuyển đoạn 8p, Trisomy 13, Trisomy 18, hội chứng VATER, hội chứng Kabuki, hội chứng Rubinstein-Taybi, hội chứng Jacobsen, hội chứng Goldenhar, mất đoạn 15q, …
4.2.4. Giá trị của kỹ thuật Karyotyping và BOBS trong chẩn đoán nhiễm sắc thể ở thai dị tật tim bẩm sinh
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng hai kỹ thuật là Karyotyping và kỹ thuật BOBS. Có trường hợp thai phụ đồng ý thực hiện cả 2 kỹ thuật, hoặc chỉ thực hiện 1 trong 2 kỹ thuật. Khi đánh giá nhóm thai phụ thực hiện đồng thời cả 2 kỹ thuật (n= 293), xác định được có 93 trường hợp bất thường NST. Tỷ lệ tương đồng trong chẩn đoán NST của hai kỹ thuật là 87,0%, với hệ số Kappa mức tốt là 0,69.
Nghiên cứu của Phan Thị Thu Giang (2017) có 13/25 trường hợp không tương đồng giữa kết quả BOBS và di truyền tế bào. Trong đó, kỹ thuật BOBS phát hiện 7 trường hợp mắc hội chứng vi mất đoạn mà kết quả Karyotyping bình thường. Kỹ thuật BOBS có kết quả tương đồng với kỹ thuật Karyotyping với độ chính xác 100% ở các trường hợp Trisomy 21, Trisomy 18 và Trisomy 13. Tác giả Miao và cộng sự (2019), đánh giá 4852 mẫu, BOBS chỉ ra rằng 4708 mẫu bình thường (97,03%), và 144 mẫu bất thường (2,97%); Karyotyping chỉ ra 4656 (95,96%) mẫu bình thường và 196 (4,04%) bất thường. Kết hợp cả hai phương pháp cho thấy 4633 trong số 4852 mẫu là bình thường (95,49%) và 219 trong số 4852 mẫu (4,51%) là bất thường. Hệ số
Kappa của thử nghiệm kết hợp là 0,70, cho thấy sự nhất quán đáng kể giữa BOBS và Karyotyping thông thường. Phối kết hợp phương pháp di truyền tế bào và kỹ thuật BOBS trong chẩn đoán trước sinh giúp chẩn đoán nhanh, chính xác và tránh bỏ sót nhiều trường hợp bất thường, giúp bác sĩ, thai phụ và gia đình có hướng xử trí kịp thời.