RAU SAU THU HOẠCH PHỤC VỤ NỘI TIÊU VÀ XUẤT KHẨU

Một phần của tài liệu Kỷ Yếu Khcn 2012-2013.Pdf (Trang 117 - 123)

Sản lượng rau thu hoạch năm 2012

Sản lượng rau thu hoạch năm 2012 của 12 đơn vị sản xuất và kinh doanh rau trên địa bàn thành phố Đà Lạt khá cao, 5 đơn vị có sản lượng từ 350-400 tấn/năm, chiếm tỷ lệ 41,7%; 3 đơn vị có sản lượng 500-600 tấn/năm, chiếm 25%; 3 đơn vị có sản lượng từ 850-900 tấn/năm, chiếm 25%; 1 đơn vị có sản lượng 3.000 tấn/năm, chiếm 8,3%.

Chủng loại rau trồng

Chủ yếu là các loại rau đặc trưng của Đà Lạt:

- Rau ăn lá: Xà lách, Bó xôi, Cải thìa, Cải thảo, Cần tây, Paro hành, Sú,…

- Rau ăn hoa: Lơ xanh, Lơ trắng,…

- Rau ăn trái: Cà chua, Bí ngòi, Ớt chuông, Ớt ngọt, Dưa leo,…

- Rau ăn củ: Cà rốt, Củ dền, Hành tây,…

Nguồn gốc giống cây trồng

Hầu hết giống cây trồng có nguồn gốc từ nhập nội. Có 6 đơn vị lấy giống hoàn toàn từ nhập nội, chiếm tỷ lệ 50%; 5 đơn vị có nguồn gốc giống cây trồng từ giống nhập nội và mua của vườn ươm, chiếm tỷ lệ 41,7%; 1 đơn vị tự sản xuất giống để trồng, chiếm tỷ lệ 8,3%.

Tình hình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật

Qua khảo sát cho thấy, các đơn vị đều sử dụng phân bón theo đúng hướng dẫn. Có 10 đơn vị đảm bảo thời gian cách ly phân bón trước khi thu hoạch là 14 ngày, chiếm tỷ lệ 83,4%; 1 đơn vị đảm bảo thời gian cách ly phân bón tới 30 ngày, chiếm 8,35%; 1 đơn vị không đảm bảo thời gian cách ly phân bón trước khi thu hoạch là 07 ngày, chiếm 8,35%.

Các đơn vị sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nằm trong danh mục cho phép, theo nguyên tắc 4 đúng.

Tuy nhiên, thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật trước khi thu hoạch không đồng bộ do phụ thuộc vào loại rau (rau ăn lá, rau ăn củ..), loại thuốc.

Theo thống kê, có 4 đơn vị có thời gian cách ly sau thu hoạch là 3 ngày, chiếm tỷ lệ 33,4%; 1 đơn vị có thời gian cách ly là 7 ngày, chiếm tỷ lệ 8,3%; 6 đơn vị đảm bảo thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật trước thu hoạch là 10-14 ngày, chiếm tỷ lệ 50%; 1 đơn vị có thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật trước thu hoạch 30 ngày, chiếm tỷ lệ 8,3%.

Qua điều tra cho thấy, 12 đơn vị sản xuất kinh doanh rau trên địa bàn thành phố có diện tích đất sản xuất rau lớn, chủ yếu từ 3-8 ha, chiếm tỷ lệ 83,4% và sử dụng hệ thống tưới tự động (tưới phun, tưới nhỏ giọt). Trong tổng số diện tích đất sản xuất rau, có 57,8% diện tích đất sản xuất được che phủ nhà kính. Nông nghiệp công nghệ cao được áp dụng tại các đơn vị sản xuất - kinh doanh rau

Sản lượng (tấn/năm) Số doanh nghiệp Cơ cấu (%)

350 - 400 5 41,7

500 - 600 3 25

850 - 900 3 25

3.000 1 8,3

Tổng 12 100

Sản lượng rau thu hoạch của các đơn vị

cùng với phần lớn giống rau có nguồn gốc nhập nội nên năng suất và chất lượng nông sản được nâng cao. Sản lượng rau cung cấp cho thị trường từ 350-900 tấn/năm, thích hợp cho việc sử dụng máy móc, thiết bị xử lý - bảo quản - đóng gói rau, quả như máy rửa rau, máy hút chân không, kho lạnh,… Đặc biệt, hầu hết các đơn vị đều có thời gian cách ly phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đúng theo hướng dẫn để tránh dư lượng đạm và hóa chất độc hại vượt mức yêu cầu; đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mặt hàng nông sản đóng gói khi đưa ra thị trường.

Chủng loại rau sản xuất và kinh doanh khá phong phú, được chia thành 4 nhóm gồm rau ăn lá, rau ăn hoa, rau ăn trái và rau ăn củ. Điều này đòi hỏi khi xây dựng quy trình xử lý, đóng gói và bảo quản rau phải chi tiết và phù hợp với từng loại rau.

1.2. Thị trường tiêu thụ

Thị trường tiêu thụ chính của 12 đơn vị trên địa bàn thành phố là nội địa, chủ yếu là cung cấp sản phẩm cho các siêu thị, công ty tiêu thụ nông sản và các thương lái chợ đầu mối; 1 đơn vị là bán trực tiếp cho người tiêu dùng.

Có 3 đơn vị xuất khẩu ra nước ngoài; 2 đơn vị xuất khẩu 10% sản lượng nông sản sản xuất hàng năm của đơn vị; 1 đơn vị xuất khẩu 80% sản lượng nông sản sản xuất hàng năm của đơn vị.

1.3. Xử lý, đóng gói, bảo quản sau thu hoạch - Phân loại rau trước khi bán cho khách hàng

Trong 12 đơn vị, có 1 đơn vị không phân loại rau trước khi bán cho khách hàng. Chất lượng rau khi đã phân loại của 11 đơn vị còn lại khá cao. 2 đơn vị có 100% rau loại I sau khi phân loại, chiếm tỷ lệ 18,2%; 8 đơn vị có 85-95% rau loại I và 5-15% rau loại II sau khi phân loại, chiếm 72,7%; 1 đơn vị có 80% rau loại I và 20% rau loại II.

- Xử lý, đóng gói, bảo quản rau trước khi bán cho khách hàng

Thị trường tiêu thụ nội địa chủ yếu là các công ty kinh doanh nông sản và thương lái tại chợ đầu mối. Rau sau khi thu hoạch được vận chuyển ngay đến nơi tiêu thụ nên các đơn vị không quan tâm đến việc bảo quản và đóng gói nông sản. Hình thức đóng gói nông sản là đóng két hoặc thùng. Có 6 đơn vị sơ chế rau trước khi bán (làm sạch lá hư - sâu - già, rửa rau), trong đó, 1 đơn vị có tỷ lệ xuất khẩu nông sản là 80% có thực hiện rửa, hấp, đóng gói, bảo quản lạnh nông sản theo tiêu chuẩn HACCP và ISO 9001-2008. Nhưng tỷ lệ hư hỏng nông sản của đơn vị sau khi bảo quản lạnh lên tới 20%.

- Mức độ quan tâm và nhu cầu sử dụng công nghệ xử lý, đóng gói và bảo quản

Chất lượng rau sau khi phân loại của các đơn vị rất cao, có 85-100% là rau loại I, chiếm tỷ lệ 90,9%. Đây là một trong những yếu tố thích hợp để ứng dụng công nghệ xử lý, đóng gói và bảo quản vì chất lượng nông sản đầu vào cao giúp giảm chi phí nhân công khi phân loại, giảm thất thoát khi sơ chế và bảo quản, đảm bảo giá trị cảm quan của sản phẩm, nâng cao chất lượng nông sản đóng gói.

Tuy nhiên, hầu hết các đơn vị vẫn chưa thực hiện việc bảo quản và đóng gói nông sản. Chỉ có 58,3% các đơn vị quan tâm, đã sử dụng hoặc đang có nhu cầu sử dụng công nghệ xử lý, đóng gói, bảo quản rau sau thu hoạch do:

- Thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp, nông sản được bán ngay sau khi thu hoạch nên giá trị kinh tế của nông sản không cao.

- Nhận thức về lợi ích của công nghệ xử lý, đóng gói và bảo quản chưa triệt để. Hầu hết các đơn vị đều cho rằng xử lý, đóng gói và bảo quản nông sản là nâng cao giá trị và chất lượng của sản phẩm.

Cần tuyên truyền để các đơn vị áp dụng công nghệ xử lý, đóng gói và bảo quản rau sau thu hoạch vào thực tế sản xuất để chủ động thời gian thu hái, kéo dài thời gian bảo quản - tạo nguồn hàng ổn định, giảm tổn thất hao hụt do quá trình bảo quản và vận chuyển, góp phần tăng lợi nhuận…

- Hiểu biết về công nghệ xử lý, đóng gói và bảo quản rau sau thu hoạch chưa sâu. Qua khảo sát các thiết bị đi kèm của công nghệ sau thu hoạch được các đơn vị đưa ra thường là: máy rửa, máy phân loại, máy đóng gói, kho lạnh. Thực chất, công nghệ bảo quản sau thu hoạch không chỉ dừng lại ở đó, mà còn tùy thuộc vào chủng loại rau, quả của đơn vị, điều kiện kinh tế, yêu cầu thị trường tiêu thụ…

2. Quy trình xử lý, bảo quản, đóng gói rau sau thu hoạch

Dựa trên kết quả phân tích số liệu điều tra, dự án đã hoàn thiện “Quy trình ứng dụng công nghệ xử lý, bảo quản, đóng gói sau thu hoạch” gồm các nội dung sau:

- Các chỉ tiêu về rau quả đã đóng gói:

+ Chỉ tiêu hình thái + Chỉ tiêu nội chất - Thu hoạch:

+ Thời gian cách ly + Thời gian thu hoạch + Độ chín của sản phẩm

+ Dụng cụ thu hoạch và yêu cầu đối với người lao động + Kỹ thuật thu hái

+ Vận chuyển - Xử lý sản phẩm:

+ Xử lý rau ăn củ + Xử lý rau ăn trái + Xử lý rau ăn lá - Dán nhãn

3. Triển khai mô hình thí điểm

Đơn vị thụ hưởng: Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Tổng hợp Anh Đào. Đây là đơn vị có khả năng tài chính, cơ sở vật chất, vị trí thuận lợi, đủ điều kiện đáp ứng được yêu cầu để xây dựng mô hình thí điểm, thuận lợi cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong việc thăm quan, học hỏi kinh nghiệm.

Nội dung hỗ trợ:

- Hỗ trợ đầu tư 01 máy rửa, 01 máy hàn miệng bao, 01 máy in date tự động.

- Hướng dẫn lắp đặt, thao tác sử dụng máy.

Tập huấn cho đối tượng tham gia mô hình: Hội Nông dân thành phố Đà Lạt, Hội Nông dân các phường, xã thuộc thành phố Đà Lạt; các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác hoạt động sản xuất, kinh doanh rau trên địa bàn thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận; các hộ nông dân sản xuất và kinh doanh rau trên địa bàn thành phố Đà Lạt.

4. Thiết lập hệ thống, xây dựng chương trình tuyên truyền, quảng bá công nghệ sau thu hoạch

Dựa trên quy trình ứng dụng công nghệ xử lý, bảo quản, đóng gói rau sau thu hoạch phục vụ nội tiêu và xuất khẩu, dự án đã phối hợp với đơn vị chuyên môn thiết kế và in ấn 800 tờ rơi phục vụ công tác tuyên truyền về công nghệ sau thu hoạch, với các nội dung:

- Kiến thức chung về công nghệ sau thu hoạch;

- Quy trình xử lý, bảo quản và đóng gói rau sau thu hoạch.

Phối hợp với Đài Truyền thanh Truyền hình Đà Lạt phát sóng các phóng sự về mô hình ứng dụng công nghệ xử lý, bảo quản, đóng gói rau sau thu hoạch trên phương tiện truyền thanh, truyền hình của thành phố.

Phối hợp phát hành các tin bài trên các chuyên trang báo chí của trung ương và địa phương.

Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án

Quy trình “Ứng dụng công nghệ xử lý, bảo quản, đóng gói rau sau thu hoạch phục vụ nội tiêu và xuất khẩu” được áp dụng vào thực tế sản xuất đã góp phần nâng cao kiến thức và nhận thức của các đối tượng liên quan về công nghệ bảo quản rau sau thu hoạch.

Triển khai thành công mô hình thí điểm xử lý, bảo quản và đóng gói rau sau thu hoạch góp phần nâng cao thu nhập của các doanh nghiệp tham gia mô hình, mang lại những sản phẩm đảm bảo chất lượng cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó, góp phần quảng bá thương hiệu Rau Đà Lạt, khẳng định vị thế của rau Đà Lạt trên thị trường, tăng sức cạnh tranh của rau Đà Lạt với các sản phẩm cùng chủng loại của địa phương khác trong và ngoài nước.

Thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền và quảng bá về ứng dụng công nghệ xử lý, bảo quản, đóng gói rau sau thu hoạch thông qua các đơn vị tuyên truyền dưới nhiều hình thức, quy mô và phạm vi giúp nâng cao nhận thức của các cấp quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp, hộ sản xuất và kinh doanh rau trên địa bàn thành phố Đà Lạt.

Tạo lập được kho tài liệu (một số bộ tài liệu chuyên đề) phục vụ nhu cầu tìm hiểu thông tin về sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao trên địa bàn thành phố.

Hệ thống máy móc phục vụ công nghệ xử lý, bảo quản và đóng gói rau sau thu hoạch

Một phần của tài liệu Kỷ Yếu Khcn 2012-2013.Pdf (Trang 117 - 123)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(123 trang)