CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ CỦA
2.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của công ty
Do than là khoáng sản không thể phục hồi được, do đó việc khai thác phụ thuộc vào trữ lưỡng của đất nước. Tiềm năng than của VN được dự báo rất lớn, bể than Đông Bắc khoảng 10 tỷ tấn và bể than Đồng bằng sông Hồng khoảng 210 tỷ tấn, nhưng trữ lượng đã được thăm dò đến nay là rất nhỏ. Trong gần 60 năm qua, VN đã đầu tư cho khâu thăm dò than khoảng 5500 lỗ khoan với tổng số hơn 2 triệu mét khoan sâu (mks), tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh.
Nghề khai thác mỏ chứa đựng nhiều rủi ro, nhiều hiểm nguy, nặng nhọc. Lấy được một tấn than lộ thiên phải bốc xúc từ 7 đến 10 mét khối đá. Lấy được 1.000 tấn than trong hầm lò phải đào hàng km đường lò, phải vượt qua phay đá, phay bùn, phay cát và rất nhiều túi nước treo lơ lửng trên đầu. Thời thịnh vượng nhất của tư bản Pháp một năm khai thác nhiều nhất được một triệu tấn than (năm 1939).
- Đối thủ tiềm ẩn
24
Dự án đầu tư cho ngành không cần đòi hỏi lượng vồn quá lớn cho công nghệ, thời gian thi công nhanh, do đó việc khai thác than diễn ra rất mạnh mẽ trong thời gian gần đây với sự tham gia của rất nhiều các doanh nghiệp hay cá thể tự phát. Rải rác khắp Việt Nam có rất nhiều các mỏ than lộ thiên do đó việc khai thác than rất dễ ràng, bởi vậy diễn ra tình trạng khai thác than trái phép ngày càng nhiều, và có rất nhiều các DN mới tham gia vào ngành vì cơ hội lợi nhuận rất lớn. Theo khảo sát của Viện Tư vấn phát triển (CODE), số lượng doanh nghiệp (DN) hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản tăng nhanh, đến năm 2007 đã có 1.692 DN tham gia lĩnh vực này, tăng gấp 4 lần so với năm 2000 (427 DN), bình quân tăng 21,7%/năm. Đầu tư của kinh tế tư nhân đang có xu hướng gia tăng và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư (tăng từ 10% năm 2000 lên 75,2% năm 2008). Hơn nữa do trữ lượng cũng như trình độ công nghệ của ngành còn lạc hậu do đó năng suất khai thác thấp, nếu việc khai thác không đáp ứng đủ nhu cầu trong nước sẽ dẫn đến tình trạng VN phải nhập khẩu than, do đó áp lực cạnh tranh với các công ty nước ngoài là rất lớn.
Theo thống kê thì có khả năng đến năm 2018 Việt Nam sẽ phải nhập khẩu than nếu không có kế hoạch khai thác và quản lý hợp lý. Với chính sách ưu đãi thuế của chính phủ thì ngành than có nhiều lợi thế so với các ngành khác do đó sẽ thu hút sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp trong ngành khai thác muốn mở rộng thêm lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Nhu cầu về than ngày càng lớn do đó việc khai thác đòi hỏi phải đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, do đó nếu các doanh nghiệp hiện nay không đáp ứng đủ nguồn than thì việc khai thác trái phép cũng như tham gia của các DN mới là rất mạnh mẽ.
- Áp lực cạnh tranh từ khách hàng
Sản phẩm của ngành là các loại than do đó đối tượng dịnh vụ của ngành than chủ yếu 2 đối tượng là người dân, và các công ty sử dụng than phục vụ sản xuất kinh doanh như các nhà máy nhiệt điện, công ty xi măng…Sự tăng trưởng của nền kinh tế thời gian gần đây đã làm cho nhu cầu về than của các nhà máy tăng cao. Ngành than đang có xu hướng tăng giá than lên để đảm bảo đủ chi trả các khoản chi phí sản xuất, tuy nhiên việc tăng giá than có ảnh hưởng tới rất nhiều hoạt động của các nhà máy, do đó rất nhiều các doanh nghiệp đã phản ứng với động thái này của ngành. Giá than bán cho điện kể từ ngày 1/3 của than cám 4b là 648.000 đồng/tấn; than cám 5 là 520.000
25
đồng/tấn, than cám 6a là 450.000 đồng/tấn và than cám 6b là 395.000 đồng/tấn. Giá thành của than năm 2008 được kiểm toán là 696.213 đồng/tấn, năm 2009 (chưa được kiểm toán) là 722.456 đồng/tấn, còn năm 2016 kế hoạch là 803.300 đồng/tấn, vì thế, giá than mới cho điện vẫn chưa cân bằng với giá thành sản xuất. Mặc dù giá than cho điện năm 2009 đã tăng 27% so với năm 2008 và năm nay lại tiếp tục tăng thêm ít nhất là 28% so với năm 2009 như công bố mới đây, nhưng ngành than vẫn cho rằng chưa đủ và cần phải tăng thêm bởi thực tế xuất phát điểm của giá than trước khi tăng là thấp.
- Áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chịu trách nhiệm chính về việc phát triển ngành Than, cung cấp than trong nước và làm đầu mối phối hợp với các hộ tiêu thụ than lớn thực hiện việc nhập khẩu than cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hiện nay hầu hết các công ty than đang niêm yết trên sàn chứng khoản đều là công ty con của TKV (TKV nắm giữ 51% cổ phiếu ) do đó cạnh tranh giữa các công ty trên sàn là không có.
- Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế
Với mục đích sử dụng là tạo ra năng lượng nhiệt, do vậy hiện nay có rất nhiều sản phẩm có thể thay thế được cho than dầu khí, điện, gỗ, năng lượng mặt trời, và đặc biệt là năng lượng nguyên tử do đó nếu giá than quá cao nhiều doanh nghiệp cũng sẽ chuyển sang dùng nguồn năng lượng khác vì thế cạnh tranh giữa các ngành là rất cao. Tuy nhiên việc sử dụng các sản phẩm thay thế này đòi hỏi các nhà máy phải có trình độ công nghệ tiên tiến, trong khi đó hiện nay trình độ cộng nghệ của các nhà máy nước ta còn lạc hậu do đó trong thời gian tới việc chuyển sang dùng sản phẩm thay thế là hơi khó khăn.
2.2.3. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh
Thông qua bảng báo cáo sau cho thấy: năm 2016, tổng LNKTTT đạt mức khá ấn tượng: 105.734 triệu đồng. Tuy nhiên, sang đến năm 2017 thì LNTT lại giảm còn
102.108 triệu đồng. Trong khi năm 2016 là năm mà hầu hết các doanh nghiệp trong nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới thì kết quả ấn tượng trên của LNKTTT được coi như một thành tích
26
của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng lợi nhuận trước thuế được cấu thành từ ba bộ phận chính là lợi nhuận thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận khác. Tuy nhiên, trong từng năm thì tỷ lệ của các bộ phận cấu thành nên LNKTTT có sự khác biệt rõ rệt. Nhìn chung lợi nhuận khác và lợi nhuận từ hoạt động tài chính đều chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, do đó LNTT của công ty được cấu thành chủ yếu bởi bộ phận lợi nhuận thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Bảng 2.5: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Đơn vị tính : triệu đồng
Chỉ tiêu
Nă m
So sánh 2017/2016
So sánh 2018/2017 2016 2017 2018 +/- Tỷ
lệ (%)
+ /-
Tỷ lệ (%)
DTT 1.247.56
4
1.501.326 1.568.359 253.762 20,34 67.033 4,46
GVHB 1.039.33
6
1.291.393 1.400.128 252.057 24,25 108.73 5
8,42 Lợi nhuận
gộp
208.228 209.933 168.231 1.705 0,82 (41.702 )
(19,86 ) DT HĐTC 10.837 17.935 4.010 7.098 65,50 (13.925
)
(77,64 ) Chi phí tài
chính
9.119 31.663 42.290 22.544 247,2 2
10.627 33,56 Trong
đó:CPLV
9.119 31.663 42.290 22.544 247,2 2
10.627 33,56 Chi phí BH 16.462 21.611 23.476 5.149 31,28 1.865 8,63 Chi phí QLDN 93.555 86.340 82.599 (7.215) (7,71) (3.741) (4,33) LN từ HĐKD 99.930 88.254 23.876 (11.676
)
(11,68 )
(64.378 )
(72,95 )
27
Lợi nhuận khác
5.813 13.853 12.082 8.040 138,3 1
(1.771) (12,78 ) Tổng
LNKTTT
105.743 102.108 35.958 (3.635) (3,43) (66.150 )
(64,78 ) CP thuế
TNDN
26.819 24.940 9.763 (1.879) (7,01) (15.177 )
(60,85 ) LNST 78.924 77.168 26.195 (1.756) (2,22) (50.973
)
(66,05 ) Nguồn: Phòng kế toán công ty Doanh thu thuần của công ty cổ phần than Hà Lầm không ngừng tăng qua các năm trong giai đoạn 2016 – 2018. Mức tăng của doanh thu thuần từ năm 2016 đến năm 2017 ở mức khá cao 253.762 triệu đồng tương đương với tỉ lệ 20,34%, tuy nhiên từ năm 2017-2018 thì tốc độ tăng của DTT chậm lại với tốc độ 4,46% (tăng 67.033 triệu đồng). Doanh thu thuần tăng không những do giá vốn hàng bán tăng ( từ 1.039.336 triệu đồng năm 2016 lên 1.400.128 triệu đồng năm 2018) mà còn do sản lượng tiêu thụ tăng (từ 1,51 triệu tấn năm 2016 tăng lên 1,63 triệu tấn năm 2018). Bởi vì hàng năm, công ty vẫn hoàn thành vượt kế hoạch về doanh thu thuần cả năm, đồng thời, bắt đầu từ năm 2016 trở đi, Bộ tài chính đã chấp thuận phương án tăng giá bán than của Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam cho ba ngành tiêu thụ than lớn nhất là giấy, phân bón và xi măng tăng 20-40% tùy chủng loại - Doanh thu hoạt động tài chính
Doanh thu hoạt động tài chính của công ty có sự thay đổi rõ rệt trong giai đoạn 2016-2018. Cụ thể, so với năm 2016 thì năm 2017 thì doanh thu hoạt động tài chính có sự tăng lên nhanh chóng với mức tăng 7.098 triệu đồng tương đương với tốc độc tăng 65,50%. Tuy nhiên, sang đến năm 2018 thì doanh thu hoạt động tài chính lại giảm nhiều so với với năm 2017 với mức gảm 77,64%.
Doanh thu hoạt động tài chính của công ty đến từ ba khoản chính là lãi tiền gửi, tiền cho vay; lãi đầu tư trái phiếu, kì phiếu, tín phiếu; cổ tức và lợi nhuận được chia. Sự thay đổi đó nguyên nhân chính là do sự biến động của chỉ tiêu lãi tiền gửi, tiền cho vay với doanh thu năm 2016 đạt 10.837 triệu
28
đồng, tăng lên 17.935 triệu đồng trong năm 2017, tuy nhiên đến năm 2018 thì chỉ tiêu này chỉ là 4.010 triệu đồng. Bên cạnh đó lãi đầu tư trái phiếu, kì phiếu, tín phiếu giảm dần qua các năm với mức 277 triệu năm 2016 và giảm về 0 đồng năm 2017 và năm 2018 nguyên nhân do các năm qua thị trường luôn rơi vào tình trạng thiếu khởi sắc, ế ẩm và trầm lắng hơn. Ngoài ra, năm 2018 tình hình hoạt động công ty không được tốt nên khoản tiền gửi trong ngân hàng được công ty dùng để chi trả cho các khoản khác. Bên cạnh đó việc đầu tư chứng khoán cũng mang lại lợi nhuận thấp cho công ty (giá bán chứng khoán thấp hơn nhiều so với năm 2017.