I. Khuyến nghị đối với các bên liên quan để nắm bắt được cơ hôi, vượt qua thách thức trong lĩnh vực lao động trong hội nhập quốc tế
1. Ổn định kinh tế vĩ mô
Thứ nhất, quán triệt, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo điều hành kinh tế vĩ mô chủ động, linh hoạt, sáng tạo, kịp thời, hiệu quả, bảo đảm phù hợp với tình hình. Thực hiện yêu cầu thực tiễn theo hướng: Bảo đảm ổn định trong điều kiện bất định; Giữ thế chủ động trước những diễn biến phức tạp, khó lường; Kiên định, nhất quán, phù hợp, hiệu quả trước sự biến động, tác động nhiều chiều từ thế giới và trong nước; Kiểm soát rủi ro, kịp thời ứng phó với
nguy cơ suy thoái, khủng hoảng; Tạo dựng phòng tuyến hợp tác, cạnh tranh kinh tế quốc tế trong điều kiện hội nhập sâu rộng.
Thứ hai, thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, chắc chắn, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, hài hòa với điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm hiệu quả và các chính sách khác để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra.
Thứ ba, bảo đảm an ninh, an toàn về tiền tệ, tín dụng, tài chính, nợ công, lương thực, năng lượng, thông tin; thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng cả phía cung và phía cầu (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu); tăng cường quản lý, kiểm soát giá các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho sản xuất kinh doanh và đời sống, nhất là xăng, dầu. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách; làm tốt công tác quy hoạch; tăng cường đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng xanh, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, thị trường quốc tế, phát triển thương mại điện tử, khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả tổng thể của nền kinh tế.
Thứ tư, nỗ lực, quyết tâm hành động cao nhất để thích ứng linh hoạt, hiệu quả với bối cảnh, tình hình mới, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, tranh thủ cơ hội, tận dụng thời cơ để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ thường xuyên; xử lý hiệu quả các vấn đề tồn đọng kéo dài; kịp thời ứng phó những vấn đề cấp bách phát sinh, đồng thời chú trọng thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp mang tính căn cơ, trung và dài hạn.
Thứ năm, theo dõi sát diễn biến tình hình, tăng cường năng lực phân tích, dự báo, phản ứng chính sách nhanh, kịp thời, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động, linh hoạt, hiệu quả trong xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động sự vào cuộc của hệ thống chính trị, sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp, người dân và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Khơi thông, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.
Thứ sáu, thực hiện nghiêm quy định về phòng, chống dịch Covid-19, sẵn sàng ứng phó với các dịch bệnh mới; chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường
phòng chống tham nhũng, tiêu cực; tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
2. Kiểm soát lạm phát ở nước ta
Năm 2022, Quốc hội đặt chỉ tiêu tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 4%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm nay tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản tăng 1,25%. Lạm phát bình quân 6 tháng đầu năm 2022 hiện vẫn đang thấp hơn mục tiêu Quốc hội đề ra nhưng với diễn biến giá cả các loại hàng hóa tăng trên thị trường thế giới, đặc biệt là nhóm hàng nhiên liệu, năng lượng như dầu khí, than đá, vật liệu xây dựng... thì việc thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức 4% sẽ gặp nhiều khó khăn.
Thứ nhất, để kiềm chế lạm phát, cùng với điều chỉnh kịp thời công cụ thuế, giảm thuế đối với sản phẩm xăng dầu nhập khẩu nhằm ổn định giá, kìm hãm đà tăng của CPI cả nước trong khuôn khổ mục tiêu đã xác định thì cũng cần kiểm soát chặt chẽ giá sản phẩm hàng hóa đầu vào để hạn chế đà tăng giá bán, từng bước đầu tư tìm kiếm nguồn vật tư hàng hóa trong nước thay thế hàng nhập khẩu. Qua đó, hạn chế tác động từ hàng nhập khẩu giá cao của thế giới.
Thứ hai, giảm bớt lượng tiền mặt trong lưu thông: Tiền bơm vào nền kinh tế quá nhiều làm cho tiền mặt mất giá trong nền kinh tế, do đó nên ngừng bơm tiền vào nền kinh tế, giảm lượng tiền mặt trong nền kinh tế bằng các cách như: nâng lãi suất tiền gửi ngân hàng, lãi suất tái chiết khấu để thúc đẩy người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn.
Thứ ba, thúc đẩy sản xuất kinh doanh: Một nguyên nhân lớn gây lạm phát mạnh là do cung quá thấp so với cầu. Do đó cần phải tăng cường sản xuất kinh doanh đảm bảo lượng cung ngang bằng với mức cầu hoặc thấp hơn không ít so với mức cầu đề giảm tỷ lệ lạm phát. Như vậy, trên đây là giải thích về lạm phát, nguyên nhân và biện pháp hạn chế lạm phát mà bạn cần phải nắm bắt.
II. Giải pháp đối với các bên liên quan để nắm bắt được cơ hôi, vượt qua thách thức trong lĩnh vực lao động trong hội nhập quốc tế.
Một là, đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về yêu cầu hội nhập quốc tế, về các cơ hội và thách thức, về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ trọng yếu của hội nhập quốc tế trong từng ngành, lĩnh vực để thống nhất nhận thức và hành động, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình hội nhập quốc tế của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, của toàn dân, doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức trong xã hội.