TỔNG SẢN PHÀM QUỐC NỘI

Một phần của tài liệu Giáo trình Kinh tế vĩ mô cơ bản: Phần 1 (Trang 31 - 48)

1. Khái niệm

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một thời kỳ nhất định, bất kể người sàn xuất thuộc quốc tịch nào.

Với khái niệm này chúng ta cần lưu ý một số vấn đề:

-Đối tượng tính toán của GDP là hàng hóa cuối cùng (sản phẩm hữu hình) và dịch vụ (sản phẩm vô hình) được sản xuất ra và trao đổi trên thị trường.

- Hàng hóa và dịch vụ cuối cùng là những sản phẩm hoàn chỉnh được bán cho người tiêu dùng cuối cùng.

Vi dụ: Đồ gia dụng, lương thực, thực phẩm, dịch vụ dọn dẹp nhà cửa, dịch vụ vui chơi giải trí... của các hộ gia đình. Thiết bị văn phòng, nhà xuởng... mua sắm và xây dựng lần đầu của các hãng kinh doanh.

Mặc dù vậy, không phải giá trị của tất cà các sản phẩm cuối cùng đều được tính vào GDP. Trong GDP chỉ bao gồm giá trị của những sản phẩm hoàn chỉnh được mua bán hợp pháp trẽn trị trường và bò sót những sản phẩm cuối cùng tự cung tự cấp (Ví dụ các sản phẩm tự sản tự tiêu của hộ gia đình như: rau trồng trong vườn nhà, thịt gia cầm do gia đình nuôi, công việc nội trợ...) hoặc những hàng hóa và dịch vụ nhìn chung không được mua bán hợp pháp trên thị trường nhưng có thể cần thiết cho các hộ gia đình. Đây là một hạn chế của GDP. Tuy nhiên, tỷ trọng của những hàng hóa và dịch vụ này trong GDP không lớn nên các nhà kinh tế vẫn sử dụng GDP trong phân tích kinh tế.

Trong kinh tê vĩ mô, hàng hóa trung gian được hiểu là hàng hóa đóng vai trò là đầu vào cùa một quá trinh sản xuất nhất định và được sứ dụng hết trong quá trình sản xuất đó.

Vi dụ: sắ t thép hoặc cửa kính để sản xuất ô tô. Vải để may quần áo.

Giấy để in sách, vở, thiệp mừng...

Việc phân biệt hàng hoá trung gian với hàng hoá và dịch vụ cuối cùng nhằm tránh tính trùng khi tính GDP. Bời trong giá trị cùa sản phẩm cuối cùng đã bao gồm giá trị của các sản phẩm trung gian.

Tuy vậy, có hai trường hợp ngoại lệ quan trọng mà hàng hóa trung gian được coi là hàng hóa cuối cùng và cũng được tính vào GDP.

Trường hợp 1:

Trong một thời kỳ nhất định, hàng hóa trung gian được sản xuất ra nhưng chưa được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa cuối cùng thì chúng được tạm coi là hàng hóa cuối cùng và giá trị của chúng cũng được tính vào GDP của thời kỳ đó.

Trong trường hợp này, hàng hóa trung gian tồn tại dưới dạng là khoản đầu tư vào hàng tồn kho và khi đó, theo quy định, giá trị cùa hàng hoá trung gian sẽ được coi là khoản đầu tư dương (+) nhưng khi hàng hóa này được sử dụng thì sẽ được coi là khoản đầu tư âm (-).

Nguyên tắc này cũng áp dụng đối với hàng hóa trung gian đã được sử dụng để sản xuất ra thành phẩm nhưng thành phẩm này vẫn chưa được tiêu thụ (thành phẩm tồn kho).

Trường hợp 2:

Hàng hóa trung gian là hàng xuất khẩu cũng sẽ được coi là hàng hóa cuối cùng trong phạm vi quốc gia và giá trị của nó cũng được tính vào GDP.

Ví dụ một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam như dầu thô than đá...

- Đcm vị tính toán cùa GDP: Thông thường mỗi quốc gia đều tính GDP theo đồng tiền bản tệ. Tuy nhiên, mỗi nước lại sử dụng một loại tiền tệ riêng nên khi muốn so sánh GDP giữa các nước thì cần đo lường GDP của các nước bằng một đon vị tiền tệ chung (chẳng hạn USD, ERO...). N soài ra để việc so sánh GDP giữa các nước phản ánh sự chênh lệch về mức sống một cách sát thực hơn, các nhà kinh tế còn sừ dụng khái niệm GDP theo sức

mua tương đuơng (GDPppp). Đây là GDP được tính toán dựa trên sự điều chinh sự khác biệt về sức mua của đồng tiền giữa các nước.

% GDP-PPP Share of World

° 18 Vi n i l i f I H i i l l I I I11 IS i n I i ’l l s i l l

N guồn: http://vi. Wikipedia. org/\viki/K inh_t% E 1 %BA % B F_ Vi% E 1 % B B% 8 7t_Nam GDP-PPP per Capita

$79.309 --- ---- --- ---- --- ---JC iw iT rt.4-

Tén nước va vùng lánh thổ

N guồn: CIA W orld Faclbook Hình 2.1. So sánh quy mô kinh tế (theo GDPppp) giữa Việt Nam với một số quốc gia

và vùng lãnh thổ khu vục Đông A và Đông Nam Á, giai đoạn 1980 -2014

- Phạm vi tính toán GDP: GDP đo lường tồng giá trị của các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất ra ừong phạm vi lãnh thổ quốc gia và không tính đến nguồn lực sản xuất có nguồn gốc từ đâu. Cụ thể GDP bao gồm giá trị của hàng hóa, dịch vụ được tạo ra bời công dân và doanh nghiệp nước ngoài tiến hành ở nước sở tại song lại không bao gồm giá trị hàng hóa, dịch vụ của công dân và doanh nghiệp nước sờ tại tiến hành ờ nước ngoài.

- Thời điếm tính toán GDP: Hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra ở thời kỳ nào thi được tính vào GDP của thời kỳ đó (thông thường, GDP được tính theo một năm hoặc theo các quý trong năm). Trong GDP không bao gồm giá trị của những hàng hoá đã sản xuất ra ở những thời kỳ trước đó hoặc những hàng hoá đã qua sử dụng.

2. P h ư ơ n g p h áp xác định GDP

2.1. Cơ sở của phương pháp xác định G DP

Trong nền kinh tế thực, có rất nhiều đối tượng tham gia vào các hoạt động kinh tế như hộ gia đình, các hãng kinh doanh, các cơ quan cùa Chính phủ từ Trung ương đến địa phuơng, người nước ngoài. Song để minh họa các cách tính toán GDP khác nhau, chúng ta bắt đầu bằng việc xem xét nền kinh tế giản đơn (trong đó không có sự tham gia cùa Chính phủ hay người nước ngoài) chỉ có hai tác nhân là các hộ gia đình và các hãng kinh doanh với những giả định sau:

- Các hộ gia đình cung cấp toàn bộ các yếu tổ đầu vào cho các hãng kinh doanh như: sức lao động, von, đẩt đai, nguyên vật liệu... trên thị trường các yếu tố sàn xuất.

- Sau khi thanh toán cho các hộ gia đình, các hãng kinh doanh sừ dụng những yếu tố đầu vào này sàn xuất ra hàng hóa và dịch vụ cuối cùng bán cho các hộ gia đình trẽn thị trường sàn phẩm.

- Các hãng luôn bán hết hàng và dùng toàn bộ số tiền thu được để trà cho các hộ gia đình. Đồng thời các hộ gia đình cũng dùng toàn bộ số tiền thu nhập được từ việc cung cấp các yếu tố đầu vào để mua hàng hóa và dịch vụ cuối cùng.

Từ những già định như trên chúng ta có sơ đồ 2 .1.

(= GDP)

...^ lu ố n g h iện v ậ t

ằ lu ồ n g tiề n

S ơ đồ 2.1. Vòng luân chuyển kinh tế v ĩ mô

Với những giả định như trên thì cả hai vòng luân chuyển bên trong và bên ngoài đều khép kín, trong đó:

- Vòng luân chuyển bên trong là vòng luân chuyển các nguồn lực thật:

Các yếu tố sản xuất từ hộ gia đình sang các hãng kinh doanh và hàng hóa, địch vụ cuối cùng từ các hãng kinh doanh sang hộ gia đình.

- Vòng bên ngoài là vòng luân chuyền về tiền: Tiền từ các hãng kinh doanh chuyển đến hộ gia đình để thanh toán cho việc cung ứng các yếu tố sản xuất. Sau đó, tiền lại từ hộ gia đình chuyển sang hãng kinh doanh để thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ cuối cùng mà hộ gia đình mua.

Sơ đồ vòng luân chuyển kinh tế vĩ mô gợi lên hai cách tính GDP:

- Một là, chúng ta có thể tính tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế, tổng giá của các hàng hóa, dịch vụ đó sẽ bàng với lượng tiền chi tiêu của các hộ gia đình. Ta có cách xác định GDP theo phương pháp chi tiêu hay GDP theo luồng sản phẩm.

- Hai là, chúng ta có thể tính tổng thu nhập từ các yếu tố sàn xuất cùa các hộ gia đình, đây cũng chính là chi phí của các hãng kinh doanh. Từ đó ta có cách xác định GDP theo phương pháp thu nhập hoặc chi phí.

Vì cả hai vòng luân chuyển đều khép kín và nền kinh tế với tư cách là một tổng thể tồng thu nhập phải bằng tổng chi tiêu. Do vậy, giá trị GDP thu được từ hai cách tính trên phải bằng nhau.

2.2. Các phương pháp xác định GDP

• X ác định GDP theo phương pháp clii tiêu hay luồng sản phẩm Như đã nói ở trên, thực tế nền kinh tế không chỉ có hai tác nhân là các hộ gia đình và các hãng kinh doanh mà còn có các tác nhân khác là Chính phủ và yếu tố nước ngoài. Vì vậy, chúng ta sẽ mở rộng sơ đồ dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô có tính tới cả khu vực Chính phủ và người nước ngoài.

Theo phương pháp chi tiêu, GDP sẽ bao gồm toàn bộ giá trị thị trường của các hàng hóa và dịch vụ mà các hộ gia đình, các hãng kinh doanh, Chính phù và khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).

GDP = c + I + G + X - M Trong đó:

C: chi tiêu của các hộ gia đình;

I: chi tiêu của các hãng kinh doanh;

G: chi mua hàng hoá và dịch vụ của Chính phủ;

X: khoản xuất khẩu;

M: khoản nhập khẩu.

NX = X - M: còn gọi là xuất khẩu ròng hay cán cân thưcmg mại. Tùy vào sự chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu mà cán cân thương mại có thể ở các trạng thái khác nhau:

- Nếu NX > 0: Cán cân thương mại thặng dư - Nếu NX = 0: Cán cân thương mại cân bằng - Nếu NX < 0: Cán cân thương mại thâm hụt

Bảng 2.1. Các thành phần GDP của Việt Nam theo giá hiện hành

Năm 2008 2009 2010 2011

Tỳ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng %

c 1.000.972 67,4 1.102.279 66,5 1.317.588 66,5 1.630.143 64,3

1 589.746 39,7 632.326 38,1 770.211 38,9 872.032 32,6

G 90.904 6,1 104.540 6,3 129.313 6,5 164.323 6,5

X 1.157.178 77,9 1.132.688 68,3 1.535.816 77,5 2.205.858 87 M 1.383.006 93,1 1.304.350 78,7 1.739.363 87,8 2.312.711 91,2

Sai số 29.244 2,0 - 9.093 -0,5 - 32.651 -1,6 20.363 0,8

CDP 1.485.038 100 1.658.389 100 1.980.914 100 2.535.008 100 N guồn: w w w .adb.org.vn, 2012

Phần dưới đây chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hom các yếu tố cấu thành GDP.

- Tiêu dùng cùa các hộ gia đình (C)

Tiêu dùng của các hộ gia đình bao gồm tổng giá ừị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình mua được trên thị trường để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Giá trị của những sản phẩm mà các hộ gia đình tự cung tự cấp sẽ không được tính trong GDP. Ngoài ra, khoản chi xây dựng hoặc mua nhà ở mới không được tính vào tiêu dùng cùa các hộ gia đình mà được tính vào khoản đầu tư tư nhân dưới đây.

- Chi tiêu hay đầu tư cùa các hãng kinh doanh (ỉ)

Thành tố này của GDP phản ánh tổng đầu tư trong nước của khu vực tư nhân. Nó bao gồm tổng giá trị hàng hóa cuối cùng mà các hãng kinh doanh mua được trên thị trường để phục vụ nhu cầu sản xuất như: chi mua máy móc, trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng, văn phòng mới...; chi xây dựng hoặc mua nhà ở mới của dân cư; và sự thay đổi trong giá trị hàng tồn kho của các hãng kinh doanh.

Cần lưu ý, khái niệm đầu tư với tư cách là thành tố cùa GDP khác với khái niệm đầu tư nói chung. Đầu tư theo cách hiểu của các nhà kinh tế ứng dụng trong tính toán tồng sản phẩm quốc nội là việc mua sắm các tư liệu lao động mới, tạo ra tư bản dưới dạng hiện vật và làm tăng tài sản của quốc gia như xây dựng nhà máy mới, mua sắm công cụ mới... Còn khái niệm đầu tư theo quan điểm của các nhà kinh doanh như việc sử dụng vốn để mua cổ phần, cổ phiếu hay mờ một tài khoản tiết kiệm ờ ngân hàng... chỉ được xem

hành vi tiêt kiệm trong kinh tế học vĩ mô, không làm cho tổng tài sản cùa quốc gia tăng lên.

Ngoài ra, khi nghiên cứu đầu tư chúng ta cần phân biệt hai khái niệm tổng đầu tư và đầu tư ròng.

Tổng đầu tư (ỉ) là giá trị các tư liệu lao động chưa trừ đi phần đã hao mòn (hay khấu hao: D) trong quá trinh sản xuất.

Đầu tư ròng (ỉn) là tổng đầu tư sau khi đã loại trừ phần khấu hao tài sản cố định.

I „ = I - D

Một ví dụ về dân số sẽ giúp bạn hiểu rõ tồng đầu tư, đầu tư ròng và khấu hao. Mức độ tăng lên cùa quy mô dân số đuợc tính bằng tồng số người sinh ra thêm trừ đi số người mất. Điều này cũng đúng đối với vốn. Mức tăng ròng của vốn (đầu tư ròng) bằng tổng đầu tư và trừ đi “số mất” của vốn dưới dạng khấu hao, hay là phần vốn đã bị tiêu dùng hết.

Tuy nhiên, trong tính toán GDP người ta tính tổng đầu lư chứ không phải đầu tư ròng. Như chúng ta đã biết tồng sản phẩm quốc nội là tổng giá trị các sản phẩm cuối cùng. Cùng với các hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình thì tổng đầu tư cũng được coi là khoản tiêu dùng cuối cùng cùa các doanh nghiệp.

Thành phần còn lại của khoản mục đầu tư là sự thay đồi trong giá tri hàng tồn kho của các hãng kinh doanh.

Hàng tồn kho bao gồm các nguyên vật liệu là đầu vào cùa sàn xuất hoặc các thành phẩm chờ để bán ra.

Theo quy định, giá trị hàng tồn kho được coi là khoản đầu tư dương (+) nhưng sau khi sử dụng hoặc tiêu thụ sẽ được coi là khoản đầu tư âm (-).

Trong mỗi thời kỳ, giá trị lượng tồn kho phát sinh tăng thêm sè được tính vào khoản đầu tư của thời kỳ đó.

Như vậy, khái niệm đầu tư là một khái niệm phức tạp. Nó cho thấy một phần tổng sàn phẩm quốc nội dùng để tái tạo vốn cơ bản cho nền kinh tế chứ không phải để tiêu dùng cho hiện tại. Đầu tư có tác dụng tái sản xuất mở rộng, nên cũng giúp tăng tiêu dùng trong tương lai. Như vậy, có sự đánh đổi giữa tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng trong tương lai.

- Chi tiêu mua hàng hóa và dịch vụ cùa Chính phủ (G)

Chính phủ là người tiêu dùng lớn nhất trong nền kinh tế. Hàng năm Chính phủ các nước phải chi tiêu những khoản tiền rất lớn vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng như: đường sá, trường học, bệnh viện, hệ thống an ninh quốc phòng và trả lương cho bộ máy quản lý hành chính của nhà nước... Toàn bộ chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ đều được tính vào GDP.

Tuy nhiên, không phải mọi khoản chi tiêu trong ngân sách của Chính phủ đều được tính vào GDP mà chỉ có những khoản chi của Chính phủ nhàm có được một hàng hóa và dịch vụ cuối cùng nào đó mới được tính trong G. Còn các khoản thanh toán chuyến nhượng (TR) cùa Chính phủ, tức là các khoản chi ra không tương ứng với một hàng hóa, dịch vụ nào sản xuất ra trong nền kinh tế, sẽ tuyệt đối không đirợc tính trong G. Các khoản chi chuyển nhượng này bao gồm các khoản chi chuyển nhượng cho các cá nhân (như: bảo hiểm xã hội cho người già, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp thất nghiệp...) hoặc cho các doanh nghiệp (như: trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, thường xuất khẩu...), hoặc cho các tổ chức. Ngoài ra, các khoản trả lãi cho các khoản nợ ở trong và ngoài nước của Chính phủ cũng không được tính vào GDP.

- Xuất khẩu (X) và nhập khẩu (M)

Một cách hiểu chung nhất, hàng xuất khẩu là những hàng hóa được sản xuất ra ở trong nuớc nhưng bán cho người nước ngoài tiêu dùng. Hàng nhập khẩu là những hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài nhưng được mua về để phục vụ nhu cầu sàn xuất và tiêu dùng nội địa. Trên thực tế, hàng hóa lưu chuyển ra, vào các khu chế xuất (khu vực có biên giới hải quan riêng nhưng vẫn nằm trong lãnh thổ quốc gia) ờ các nước cũng được coi là hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, trong quá trình tính toán GDP chúng ta tạm bỏ qua giá trị của những hàng hóa, dịch vụ này.

Căn cứ vào cách hiểu chung đó, chúng ta thấy hàng xuất khẩu làm tăng tổng sản phẩm quốc nội GDP. Trái lại, hàng nhập khẩu không nằm trong sản lượng nội địa nên phải trừ đi khỏi khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà các hộ gia đinh, các hãng kinh doanh và Chính phủ đã mua và tiêu dùng.

X ác định GDP theo phư ơng pháp thu nhập hoặc chi p h í

Tồng chi phí mà các hãng kinh doanh phải thanh toán như: tiền công, tiền trả lãi cho việc vay vốn, tiền thuê nhà xưởng, văn phòng... và lợi nhuận

Một phần của tài liệu Giáo trình Kinh tế vĩ mô cơ bản: Phần 1 (Trang 31 - 48)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(153 trang)