THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ: TU TUONG HO CHi MINH VE VAN DE DAN TOC VA SU VAN DUNG TRONG QUA TRINH THUC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÓI VOI DONG BAO DAN TOC THIEU SO Ở TỈNH BÌNH DINH HIEN NAY (Trang 54 - 96)

TINH BINH DINH TRONG THỜI GIAN QUA.

2.1. KHÁI QUÁT MOT SO DAC DIEM VỀ TỰ NHIÊN, XÃ HỘI LIÊN

QUAN DEN VAN ĐÈ DÂN TỘC VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DAN TOC O TINH BÌNH ĐỊNH

Bình Định là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ của Việt Nam,

nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng

Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và phía Đông

giáp biển Đông; Diện tích tự nhiên 6.025 km”; dân số 1.640.912 người, mật độ dân số 246,2 người/km”; có bờ biên dài 134 km; có 11 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố, 01 thị xã và 6 huyện đồng bằng, trung du và 3

huyện miền núi); có 33 xã - thị trấn thuộc 6 huyện: An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Tây Sơn, Hoài Ân, Phù Cát có đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, với diện tích tự nhiên là 291.481ha; Địa hình của tỉnh Bình Định tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông của dãy Trường Sơn, kế tiếp là vùng.

trung du, dãi đất này lưng tựa vào dãy Trường Sơn, hướng ra biển Đông 'Vùng thấp là vùng đồng bằng rải rác có đồi thấp xen kẽ. Địa hình đồng bằng, nghiêng nên rất dễ bị rửa trôi, dẫn đến đắt bị bạc màu và mặn hoá. Bình Định có đường sắt thống nhất Bắc - Nam, quốc lộ 1A chạy qua tỉnh, cách Hà Nội 1.065 km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 649 km vẻ phía Bắc. Lại

có tuyến quốc lộ 1D dài 33km nối thành phố Quy Nhơn với huyện Sông Cầu

tỉnh Phú Yên; có quốc lộ 19 dài 70 km nối Bình Định với Tây Nguyên, Nam.

Lào, Đông Bắc Campuchia và Thái Lan. Đặc biệt ở đây có cảng Quy Nhơn — là một trong 10 cảng biển lớn của cả nước có thể đón tàu 3 vạn tắn ra vào

cảng an toàn; Cảng Thị Nại nằm gần kề cảng Quy Nhơn, có tổng độ đài cầu

tàu là 268m, mực nước sâu từ 4 - 6m, có thể tiếp nhận tàu có trọng tải từ 3.000 đến 5.000 tắn; có sân bay Phù Cát cách thành phố Quy Nhơn 30km về phía Bắc.... tạo cho vùng đắt này có nhiều lợi thế về giao thương cả trong lẫn ngoài nước với nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế.

Bình Định có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Nhiệt độ trung binh 27°C.

Mảnh đắt này mang nhiều các di tích, kiến trúc cô, các di chỉ văn hóa chăm cổ

như: Điện Tây Sơn, Thành Hoàng Đế, Thành thị Nại, Tháp Đôi, Tháp Bình Lâm, nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn, Khu di tích chỉ bộ Vạn Đức, Từ đường.

Võ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân, căn cứ Núi Bà.... Bình Định còn nỗi tiếng với

nhiều danh lam thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và hữu tình như: Gành ráng, Hầm hô, bán đảo Phương Mai...Bình Định còn được nhắc đến với các bãi biển trai dài sạch, dep và giá trị phát triển thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn như: Bãi biển Quy Hòa, Bãi Dài, Bãi Xép, Nhơn Lý, Trung Lương.

Bình Định vốn là một tỉnh nông nghiệp, đất nông nghiệp chiếm gần 20% diện tích đắt tự nhiên, 80% dân số sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngành nông nghiệp phát triển khá ôn định, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,1%/năm, giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2010 gấp 1,39 lần so với năm 2005. Về công, nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp tăng gắp 4,11 lan so với năm 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân 15,2%/năm. Tính đến năm 2010, toàn tỉnh có 24.161

cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó: Cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước có 12 doanh nghiệp, kinh tế có vốn đầu tư của nước

ngoài có 9 doanh nghiệp, kinh tế ngoài Nhà nước có 24.140 cơ sở. Ngoài khu kinh tế Nhơn Hội, trên địa ban tỉnh đã hình thành 04 khu công nghiệp do tỉnh

quản lý, trong đó 02 Khu công nghiệp Phú Tài, Long Mỹ đã lắp đầy, còn 02

Khu công nghiệp Nhơn Hòa, Hòa Hội đang trong giai đoạn xây dựng hạ ting

kỹ thuật nhưng cũng đang trong quá trình hoàn tất các thủ tục đầu tư xây

dựng.

Manh dat Binh Định còn được biết đến là

nhiều rừng núi cao trùng điệp. Vùng rừng núi nằm về phía tây bắc và phía tây

phận sườn đốc hơn 20° có diện tích khoảng 249.866 ha,

chiếm 70% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh, thường có độ cao trung bình

500 - 1.000 m, trong đó có 11 định cao trên 1.000 m, đinh cao nhất là 1.202 m ở xã An Toàn (huyện An Lão). Còn lại có 13 đỉnh cao 700-1000 m. Các day

núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng. Nhiều khu vực núi ăn ra.

L trong những tỉnh có

của tỉnh, đại

sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới

chân là các dải cát hẹp.

Giáp phía đông Trường Sơn, bao gồm chủ yếu các huyện miễn núi của tỉnh: Vân Canh, Vĩnh Thạnh và An Lão. Điều kiện tự nhiên của các huyện này tương đối phức tạp, tổng diện tích tự nhiên là 2.189 kmỶ; trong đó Vân Canh 798 km”, Vĩnh Thạnh 700,8 km”, An Lão 690,2 km”, chiếm 36,33%

tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Tổng dân cư trên địa bàn 3 huyện là 23.640 hộ, với 89.625 người; trong đó: Vân Canh 27.841 người, Vĩnh Thạnh: 32.005 người, An Lão: 29.779 người, chiếm 5,96% dân số toàn tỉnh.

Nếu tính về cơ cấu dân tộc thì Bình Định có đến 9 dân tộc, nhưng thực chất cũng chỉ có 4 dân tộc có số lượng cư dân đáng kể là: Kinh, Bana, H’ré, Chăm. Dân cư 3 dân tộc thiểu số Bana, H'rê, Chăm (gồm 8.975 hộ ) đều sống tập trung ở 3 huyện miễn núi Vân Canh, Vĩnh Thạnh và An Lão.

Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2012 tỉnh Bình Định có khoảng

37.091 người, trong đó dân tộc Bana 20.124 người, dân tộc Hrê 9.842 người, dân tộc Chăm 6.142 người, còn lại 983 người là các đân tộc khác như: dân tộc

Thái 225 người, dân tộc Tày 196 người, dân tộc Mường 84 người, dân tộc

Ning 34 người... Trong các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định, dân tộc Bana, H rê, Chăm là những dân tộc có số lượng người tương đối đông so với các dân tộc thiểu số khác của tỉnh. Vì các dân tộc Bana, H'rê, Chăm là những dân

tộc có mặt từ khá sớm ở vùng đất Bình Định, họ là những dân tộc bản dia,

những dân tộc thiểu số gốc của vùng. Còn các dân tộc thiểu số khác chiếm số.

lượng không nhiều, sống phân bố rãi rác ở các huyện miền núi và trung du của tỉnh và nhất là họ mới di cư từ các nơi khác đến trong thời gian gần đây.

Vì vậy, khi nói đến các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định chủ yếu nói đến các dân tộc Bana, H'rê, Chăm. Bởi xét trên nhiều phương diện, các dân tộc thiểu.

số này đã có những đóng góp tích cực vào việc xây dựng, bảo vệ và phát triển vùng đất đã hình thành nên những đặc trưng tộc người của vùng đất Bình

Định. Do đó, trong phạm vi luận văn này tôi không đưa các dân tộc thiểu số khác ở tỉnh Bình Định vào đối tượng bàn luận, nghiên cứu, mà chủ yếu tập trung vào 3 dân tộc: Bana, H’ré và Chăm.

Về tình hình phân bố, đặc điểm cơ bản của 3 dân tộc ít người Bana, H'rê, Chăm có những nét nỗi bật như sau

Dain tộc Bana là dân tộc có số dân đứng hàng thứ hai trong tỉnh Bình Định sau dân tộc Kinh, với dân số khoảng 20.124 người. Địa bàn cư trú của người Bana phân bố ở các huyện Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão và 3 xã ở huyện Hoài Ân, 1 xã ở huyện Tây Sơn. Tộc người Bana có địa bàn cư trú phân tán nhất và thường ở vùng rừng núi cao, nơi độ che phủ của rừng còn nhiều thảm động thực vật phong phú, đa dạng. Người Bana ở Hoài Ân mới từ Vinh Thanh chuyén cư sang, người Bana ở Vân Canh trong quá trình tồn tại và phát triển đã trao đổi văn hoá rất mạnh với người Kinh, đặc biệt là người

Chăm sống kề cận. Hiện tượng trao đôi, giao lưu, ảnh hưởng văn hoá giữa.

người Chăm và người Bana ở Vân Canh đã hình thành nên trạng thái đan xen văn hoá rất đặc thù ở nơi đây. Chỉ có người Bana ở Vĩnh Thạnh hiện còn giữ

được nhiều nét văn hoá đặc thù tộc người nhất trong số những người Bana ở.

Bình Định. Người Bana sống tập trung và đông nhất ở Vĩnh Thạnh, được cộng đồng người Bana trong vùng gọi là Bana K'riêm. Trong khi đó người

Bana ở Võn Canh lại được gọi là Bứhua - Chămroi, hay Bana Bằng hường,

Bana — Chăm. Như thế, dù có nhiều ý kiến khác nhau về người Bana ở Vĩnh Thạnh, ở Vân Canh nhưng trên những nét lớn chúng ta có thẻ khẳng định người Bana ở Bình Định là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng.

Bana. Người Bana ở Bình Định hiện nay vẫn còn giữ lại được nhiều nét văn

hoá của cộng đồng Bana nói chung.

Kinh tế truyền thống của tộc người Bana chủ yếu là kinh tế nương rẫy.

Hầu như kinh tế nương rẫy đã chỉ phối, tác động đến các hoạt động kinh tế khác của người Bana. Trước đây ở người Bana bên cạnh kinh tế nương rẫy còn có kinh tế hái lượm, săn bắt, thu nhặt lâm thổ sản của núi rừng, chăn nuôi và một số ngành nghề thủ công như đan lát, dệt vải, rẻn...Cây trồng trên nương rẫy của người Bana là cây lúa cạn, ngô, đậu, sắn, các loại bầu bí. Hiện tại người Bana đã chuyển sang phát triển kinh tế vườn, đầu tư cho chăn nuôi, đào ao thả cá, trồng lúa nước, trồng rừng, trồng các cây công nghiệp có giá trị

kinh tế cao.

Đơn vị xã hội cơ bản của tộc người Bana là làng (P"lei). Điều hành đơn vị xã hội ấy có một bộ máy tự quản bao gồm chủ làng và những người giúp việc cho chủ làng. Thiết chế xã hội truyền thống của người Bana là một thiết chế ôn định, bền chặt. Trong xã hội của người Bana tính cộng đồng cao là đặc

điểm nỗi bật nhất, chính vì thế dù còn đói nghèo, vất vả, khổ cực nhưng trong.

xã hội của người Bana trước đây chưa hề có sự phân hóa giai cấp.

Đân tộc H'rê là đân tộc có số đân đứng hàng thứ ba trong tỉnh Bình Định, với dân số khoảng 9.842 người cư trú tập trung ở huyện An Lão. Chính

vì thế khi nói đến người H'rê ở Bình Định, đặc biệt lưu ý tới người H'rê ở

huyện An Lão. Về nguồn gốc của người H'rê hiện vẫn còn có nhiều ý kiến

tranh luận khác nhau. Tuy nhiên, bản thân người H'rê lại coi miền Tây Bình Định (An Lão), Quảng Ngãi (Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long, Trà Bồng, Tư

Nghia) la ving dat ma t6 tién ho da khai pha tir xua. Trong cac truyén thuyét về nguồn gốc dân tộc, người H'rê thường nhắc nhiều đến tên các ngọn núi

Mùn, Rin và xem đó như là vùng đất khởi thủy của dân tộc. Người H Binh Dinh trong sinh hoạt kinh tế có một điểm khá đặc thù là bên cạnh canh.

tác nương rẫy, dân tộc này từ rất sớm đã biết canh tác lúa nước theo phương,

pháp “dẫn thuỷ nhập điền”.

Người H'rê định cư thành từng làng (plây) với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Làng H”rê xây dựng ven triển đồi, phía dưới là thung lũng. Trong xã hội

truyền thống của người H'rê, làng là đơn vị cư trú, đồng thời là cộng đồng tự

quản với những thiết chế sinh hoạt đã định hình từ lâu. Mỗi làng đều có chủ lang (Kan play) — là người lớn tuổi, am hiểu phong tục tập quán, nắm rõ địa giới của làng, là người có uy tín, gia đình thuộc loại giàu có trong làng. Nhìn chung, xa hoi H’ré van mang tính cộng đồng thống nhất, đoàn kết gắn bó giữa các thành viên. Nguồn kinh tế đem lại thu nhập quan trọng nhất trong đời sống của người H'rê là nông nghiệp trồng lúa nước đã có từ lâu đời. Nguồn thu nhập từ rẫy chiếm vị trí thứ hai sau thu nhập hoa lợi ruộng nước và cũng.

đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của người H'rê. Nghề thủ công.

cũng góp phần bồ sung quan trọng trong đời sống kinh tế tự cung tự cấp, đó là

nghề đệt và đan lát. Sản phẩm làm ra là các đồ dùng trong sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của con người. Chăn nuôi gia súc, nhất là chăn nuôi trâu và

chăn nuôi gia cằm tương đối phát triển. Sản phẩm chăn nuôi dùng trong buôn

bán, trao đồi, làm thực phẩm và dùng trong nghỉ lễ.

Đân tộc Chăm (hay còn gọi là Chăm Hroi) là dân tộc có số dân đông đứng thứ tư trong tỉnh Bình Định, với dân số khoảng 6.142 người cư trú tập trung ở huyện Vân Canh, ở đây người Chăm sống xen cư với người Bana và người Kinh. Người Chăm ở huyện Vân Canh có khá nhiều tên gọi và tên tự gọi khác nhau: Chăm Hroi, Hroi, A roi, Chăm ĐắcRây, Chăm Hodang, Chim

'Đèo... Cũng giống như dân tộc H’ré, Bana, don vị cư trú co bản, duy nhất của.

Người Chăm là làng. Đứng đầu một làng của người Chăm trước đây là một

chủ làng (Ha Plây). Người chủ làng được được tuyển chọn từ các người già trong làng — là người có vai trò và vị trí cao nhất trong xã hội Chăm, ngoài ra những người chủ làng của người Chăm thường là những người giàu có. Về kinh tế, người Chăm trước kia vốn cư trú ở vùng đồng bằng ven biển nên các.

ngành sản xuất khá phát triển đó là sản xuất nông nghiệp, đánh cá biển và

buôn bán nhỏ. Nhưng từ khi chuyển lên vùng núi huyện Vân Canh cư trú,

trong kết cầu kinh tế của nhóm cư dân này đã có sự thay đổi. Đó là sự mất di

của nghề đánh cá biển, sự thu hẹp lại của nghề buôn bán và đặc biệt là sự ra đời của một hình thái kinh tế mới, chủ yếu là khai phá ruộng khô trồng lúa

cạn, phát triển kinh tế nương rẫy, làm ruộng nước, phát triển chăn nuôi, tiến

hành săn bắt, đánh cá, hái lượm... nhưng hoạt động kinh tế nương rẫy chiếm vị trí trọng yếu trong kinh tế của người Chăm. Nghề dệt vải là nghề truyền thống của người Chăm và hiện nay còn tồn tại nên ở dân tộc này việc bảo lưu được những trang phục dân tộc là một điều tất yếu. So với người Bana và người H”rê sống trên địa bàn tỉnh, dòng họ của người Chăm là một tổ chức khá chặt chẽ, hoàn chỉnh, quy cũ, sự đoàn kết và quan tâm đối với nhau là một nét đặc thù trong quan hệ dòng họ của người Chăm. Tính công bằng, tính nhân văn là những đức tính nỗi bật trong quan hệ xã hội của người Chăm.

Với một vài khát quát trên, ta thấy rằng Bình Định là một trong những.

tỉnh có địa bản chiến lược quan trọng, là căn cứ địa cách mạng gắn liền với lịch sử chống áp bức giai cắp và chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Mảnh đất nảy còn có những lợi thế về lâm thô sản, người dân cần củ siêng năng, có tỉnh thần đoàn kết cao. Tuy nhiên, do điều kiện không thuận lợi về khí hậu, thời

tiết; đặc biệt là điều kiện khoa học kỹ thuật áp dụng cho sản xuất còn hạn chế, công cụ lao động thô sơ...nên đời sống kinh tế - xã hội khu vực miền núi

vùng DTTS còn gặp phải rat nhiều khó khăn. Đến cuối năm 2012, trong 3

huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Định tỉ lệ hộ nghèo trên địa bàn còn cao, trong đó: Vân Canh 45,39%, Vĩnh Thạnh: 48,54%, An Lão: 53,76%, được

Chính phủ xếp vào diện 62 huyện nghèo nhất nước.

2.2. VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH - THÀNH TỰU, HẠN CHÉ, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SÓ KINH

NGHIỆM

2.2.1. Những thành tựu cơ bản của tỉnh Bình Định trong việc thực hiện chính sách dân tộc

Cùng với các tỉnh, thành khác trên toàn quốc, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất nước nhà, Đảng bộ và nhân dân Bình Định cùng.

bắt tay vào công cuộc hàn gắn những vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế xã hội. Hơn bắt cứ nơi nào khác, 3 huyện vùng miễn núi của tỉnh gặp phải rất nhiều những khó khăn gian khổ bởi phải chịu nhiều đau thương, mắt mát do chiến tranh để lại, mặt khác do nhiều điều kiện khách quan về thời tiết, giao thông, kinh tế... khiến cho công cuộc tái thiết cuộc sống.

ở nơi đây đứng trước những thử thách cực kỳ lớn lao.

'Nhận thức rõ về vấn đề trên, với sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và Nhà

nướ

sự chung tay chia sẻ của nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân dân trong

toàn tỉnh quyết tâm cùng đồng bào các DTTS vùng miền núi Bình Định từng.

bước vượt qua những khó khăn, khôi phục và phát triển cuộc sống của mình.

Trong quá trình tổ chức thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo, phát triển

kinh tế - xã hội vùng miễn núi, Bình Định luôn đề cao tầm quan trọng của.

việc thực hiện chính sách dân tộc. Nhiều năm liên tiếp, Bình Định đã đầu tư

khoảng 50% nguồn lực về tài chính của tỉnh cho các huyện miền núi để xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, xây dựng hệ thống điện - đường - trường

~ trạm, Ngoài ra, một loạt các chương trình, dự án, chính sách như 134, 135

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ: TU TUONG HO CHi MINH VE VAN DE DAN TOC VA SU VAN DUNG TRONG QUA TRINH THUC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÓI VOI DONG BAO DAN TOC THIEU SO Ở TỈNH BÌNH DINH HIEN NAY (Trang 54 - 96)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(134 trang)