Tuổi: là một yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh lý mạn tính nói chung và bệnh COPD nói riêng. Nhiều nghiên cứu cho thấy những người lớn tuổi có nguy cơ cao đối với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do những bệnh có liên quan đến COPD.
Trong nghiên cứu của tôi, đa số đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi (≥ 60), chiếm tỷ lệ 86,7%.Kết quả nghiên cứu trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự với kết quả nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Thu Huyền (2020), nhóm tuổi ≥ 60 chiếm tỷ lệ 85%
[7]. Khi tuổi càng cao, quá trình lão hoá xảy ra ở tất cả các cơ quan. Phổi mất dần sự co lại, đàn hồi. Phổi trở nên tròn và nhỏ hơn, lồng ngực trở nên cứng và xương sườn ít di động. Sự thay đổi tính đàn hồi của phổi làm giảm dự phòng thông khí và khả năng làm sạch tiết ra giảm theo độ tuổi [36]. Những bệnh nhân bị COPD thường tuổi đã cao, khả năng nhận thức hạn chế, khả năng tự chăm sóc bản thân giảm nên cần có sự tư vấn của bác sỹ, có sự giúp đỡ, hỗ trợ của gia đình, tăng cường các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe qua tivi, báo, đài, để nâng cao hiểu biết về bệnh, có các biện pháp dự phòng và tuân thủ điều trị. Hay nghiên cứu Trịnh Mạnh Hùng số NB có độ tuổi trung bình tham gia nghiên cứu là 71 ± 3,52 tuổi [11] cũng tương tự trong nghiên cứu của chúng tôi là 68,7 ± 10,4 tuổi. Điều này cũng phù hợp với đa số các tác giả khác cho rằng tuổi cao là yếu tố nguy cơ của BPTNMT [12], [8], [24]
Giới tính: Nghiên cứu của tôi cho thấy tỷ lệ NB nam (76,7%) cao hơn tỷ lệ NB nữ (23,3%) gần tương tự như kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu tiến hành tại các cơ sở khám chữa bệnh khác như nghiên cứu của Trần Thị Hằng (2012) tại bệnh viện Đa Khoa Bắc Kạn cũng cho tỷ lệ tương tự 83,6%/16,4%
[22].
- Đặc điểm liên quan đến điều trị
Đặc điểm thời gian điều trị bệnh: COPD là một bệnh mạn tính cần phải điều trị kéo dài. Có tới 23,3%NB trong nghiên cứu của chúng tôi có thời gian phát hiện mắc bệnh COPD từ 1 đến 3 năm, và 60% NB điều trị có thời gian phát hiện bệnh trên 3 năm. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Dariusz
Wisniewski (2012) tại Ba Lan ghi nhận thời gian điều trị quản lý COPD của NB thường kéo dài trên 3 năm chiếm tới 32,5% số NB trong chương trình quản lý [33].
Hoàn cảnh phát hiện bệnh: Có tới 36,7% NB phát hiện bệnh do bị đợt cấp, NB mới đến cơ sở khám bệnh để khám mới phát hiện mình mắc COPD. Kết quả này cũng phù hợp thu nhập kinh tế của người Việt còn chưa cao, và thói quen của người dân là ngại đi khám bệnh định kỳ, chỉ khám khi bệnh đã diễn biến nặng.
Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Hằng (2012) có tới hơn 83,6% đối tượng được phát hiện mắc BPTNMT do có biểu hiện triệu chứng của bệnh hoặc do bị đợt cấp của BPTNMT mới phải đi khám bệnh và điều trị [22].
Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy NB được tiếp cận nguồn cung cấp thông tin liên quan đến bệnh COPD chủ yếu qua các nguồn thông tin từ nhân viên y tế 68,3% sách báo, tivi là 20% , người thân là 6,7% và phát thanh công cộng là 5% NB rất mong muốn được nhân viên y tế tiếp tục tư vấn và hỗ trợ trong quá trình điều trị, chăm sóc COPD nhu cầu này lên đến 83,3% khi được hỏi mong muốn được cung cấp thông tin từ nguồn nào. NB cho rằng chỉ từ nguồn cung cấp thông tin từ người nhân viên y tế là chính xác, toàn diện và hiệu quả nhất đối với NB. Và kết quả này cũng tương tự kết quả thu được từ nghiên cứu Nguyễn Minh Phúc và cộng sự ghi nhận nguồn cung cấp thông tin từ nhân viên y tế chiếm tới 85,2% [15]. Qua đây thấy được vai trò và nhiệm vụ của nhân viên y tế (bác sỹ, điều dưỡng, nhân viên khác...) có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển ý thức tuân thủ điều trị của NB, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống của người mắc COPD.
- Thực trạng kiến thức về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Kiến thức cơ bản về bệnh và yếu tố nguy cơ của COPD là vấn đề rất quan trọng đối với người mắc COPD nói riêng và cộng đồng nói chung. Các yếu tố nguy cơ của COPD là: Hút thuốc lá, ô nhiễm môi trường sống, môi trường làm việc độc hại, nhiễm trùng đường hô hấp, yếu tố di truyền, tình trạng tăng đáp ứng đường thở và giới tính, tuổi. Sự hiểu biết tốt về các yếu tố nguy cơ của bệnh là cơ sở giúp cho bệnh nhân kiểm soát được các đợt bùng phát và tiến triển của bệnh. Trong nghiên cứu, phần lớn người bệnh có hiểu biết các yếu tố nguy cơ chính của bệnh là hút thuốc lá và ô nhiễm môi trường lần lượt là 81,7%. Tuy nhiên các ĐTNC chưa nêu được đầy
đủ các yếu tố nguy cơ của bệnh. Vì vậy, khi người bệnh đã được chẩn đoán mắc COPD, bác sỹ nên giải thích các yếu tố nguy cơ của bệnh để NB có các biện pháp phòng tránh, hạn chế tiếp xúc để ngăn ngừa tiến triển của bệnh. Kết quả nghiên cứu này thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Văn Cường (2017) đa số ĐTNC có hiểu các yếu tố nguy cơ chính của bệnh là hút thuốc lá và ô nhiễm môi trường lần lượt là 83,3 % và 95% [4].
Qua nghiên cứu cho thấy đa số người bệnh đều biết khó thở ,ho tăng lên là một trong những biểu hiện quan trọng nhất mà người bệnh cảm nhận và phát hiện đầu tiên của đợt cấp COPD chiếm 85%. Bởi vì đây là những dấu hiệu liên qua đến hô hấp của bệnh nhân và nó ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng của người bệnh nên đây là dấu hiệu mà phần lớn người bệnh đều biết.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng người bệnh tái khám theo hẹn của bác sỹ chiếm 60%; còn 40% người bệnh chưa ý thức được tầm quan trọng của việc tái khám hàng tháng. Kết quả nghiên cứu này thấp hơn kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Văn Cường (2017), tình trạng người bệnh tái khám theo hẹn của bác sỹ chiếm 63,3% [4]. Có một số bệnh nhân được bác sỹ hướng dẫn đi khám lại hàng tháng và bệnh nhân cũng biết là nên đi khám lại nhưng do hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế khó khăn, chỉ lúc nào có đợt cấp của bệnh thì bệnh nhân mới vào viện. Do vậy, cần phải hướng dẫn bệnh nhân đi khám lại hàng tháng, ngay cả khi không còn triệu chứng của bệnh để nâng cao hiệu quả điều trị.
- Thực trạng kiến thức về tuân thủ sử dụng thuốc
Qua kết quả nghiên cứu của tôi cho thấy phần lớn người bệnh thường xuyên sử dụng thuốc dự phòng để kiểm soát sự tiến triển của bệnh và hiểu được tầm quan trọng của việc dùng thuốc dự phòng ngay cả khi các triệu chứng đã giảm hoặc không còn.
Nghiên cứu J. Bourbeau và cộng sự (2008) của đã ghi nhận chỉ 15% NB không sử dụng thuốc giãn phế quản theo đúng tấn số quy định và số lần xịt trong 1 lần sử dụng.
Mặc dù tỷ lệ tuân thủ trong các thử nghiệm rất cao 81,7% số NB tham gia nghiên cứu [34].
- Thực trạng kiến thức về tuân thủ chế độ dinh dưỡng
Kiến thức tuân thủ chế độ ăn có vai trò rất quan trọng trong phòng ngừa COPD và giảm các yếu tố nguy cơ, tác dụng phụ của thuốc cũng như góp phần làm giảm liều và lượng thuốc uống nhưng là vấn đề khó khăn trong việc áp dụng do đời
sống xã hội, nhận thức của người bệnh, do thói quen ăn uống sinh hoạt gia đình đã hình thành từ trước. Hơn nữa phong tục tập quán của người Việt thường sống và ăn cùng con cháu nên rất khó thực hiện chế độ ăn riêng dành cho người mắc COPD tại đây ghi nhận có 71,7% NB chưa có kiến thức đúng về lựa chọn số bữa ăn, và 60% NB chưa có kiến thức đúng về lựa chọn nhóm thực phẩm sử dụng trong bữa ăn dành cho người mắc BPTNMT.
- Thực trạng kiến thức về sự tuân thủ không sử dụng thuốc lá/thuốc lào,hạn chế sử dụng bia/rượu
Kiến thức không sử dụng thuốc lá/thuốc lào: nghiên cứu ghi nhận sử dụng thuốc lá là yếu tố gây ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình bệnh tật của NB, qua khảo sát nghiên cứu ghi nhận kiến thức tuân thủ không sử dụng thuốc lá/thuốc lào của NB đạt tỉ lệ 66,7%
Kiến thức hạn chế sử dụng bia/ rượu: Tuân thủ hạn chế uống rượu/bia được đánh giá dựa trên lượng rượu/bia tối đa được phép uống ngày nhiều nhất và trong cả tuần quy ra cốc chuẩn. Theo đó những NB được coi là tuân thủ khi uống ngày nhiều nhất dưới 3 cốc chuẩn (nam) dưới 2 cốc chuẩn (nữ) và tổng cộng uống ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam) 9 cốc chuẩn/tuần (nữ). Theo cách đánh giá này thì tỷ lệ NB có kiến thức về tuân thủ hạn chế uống rượu/bia trong nghiên cứu của chúng tôi đạt 60%
- Thực trạng kiến thức về tuân thủ chế độ luyện tập và phục hồi chức năng hô hấp
Phục hồi chức năng hô hấp giúp cho người bệnh giảm các triệu chứng khó thở, cải thiện chất lượng cuộc sống, tăng khả năng gắng sức, giảm số đợt kịch phát phải nhập viện và giảm chi phí [3]. Cán bộ y tế cần hướng dẫn cụ thể để người bệnh biết và thực hiện.Theo kết quả phân tích chúng ta thấy tỉ lệ người bệnh chưa biết được các phương pháp phục hồi chức năng hô hấp để làm sạch đường thở (chiếm 50%).
Tỉ lệ người bệnh biết các phương pháp làm sạch đường thở còn thấp: ho có kiểm soát (56,7%), kỹ thuật thở ra mạnh (66.3%); Đồng thời tỉ lệ NB không biết kiến thức về thực hiện các bước trong các kỹ thuật PHCN hô hấp còn khá cao như: Không biết thực hiện kỹ thuật ho có kiểm soát (43.3%), kỹ thuật thở ra mạnh (36.7%). Đây là một trong những thiếu xót về kiến thức của người bệnh trong việc phục hồi chức năng hô hấp mà người cán bộ y tế có thể giải quyết được bằng cách tư vấn giúp cho
người bệnh hiểu được tầm quan trọng của các phương pháp này đồng thời hướng dẫn người bệnh tập luyện các phương pháp trên theo đúng quy trình các bước để đảm bảo hiệu quả.
Kiến thức tuân thủ tập thể dục/thể thao là tập thể dục đều đặn ở mức độ vừa phải khoảng 30-60 phút mỗi ngày thì tỉ lệ này còn thấp có 61.7% NB trả lời đúng.
Khi giới thiệu về các hoạt động luyện tập dành cho NB BPTNMT, đa số NB lựa chọn hình thức luyện tập là đi bộ (93.3%). Như vậy đa số NB biết lựa chọn hình thức tập luyện thể dục phù hợp với sức khỏe của mình tuy nhiên lựa chọn phương pháp luyện tập như thế nào là hợp lý nhất thì lại chưa đạt được.
- Kết quả chung kiến thức về tuân thủ điều trị của người mắc BPTNMT Nghiên cứu của tôi là nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đánh giá dựa trên Quyết định số 2866/QĐ – BYT ngày 08 tháng 07 năm 2015 [3]. Chúng tôi chọn các mức độ yếu, trung bình, khá và tốt để đánh giá kiến thức tuân thủ điều trị BPTNMT của đối tượng nghiên cứu. NB về tuân thủ điều trị BPTNMT ở mức độ yếu (tức là có câu trả lời đúng < 50% trên tổng số câu hỏi, tương ứng với tổng điểm kiến thức <
21điểm)). Mức độ trung bình (tức là có câu trả lời đúng trong phạm vi 50% đến <
70% trên tổng số câu hỏi, tương ứng với tổng điểm kiến thức từ 22 điểm đến <
31điểm). Mức độ khá (tức là có câu trả lời đúng trong phạm vi 70% đến 80% trên tổng số câu hỏi, tương ứng với tổng điểm kiến thức từ 32 điểm đến < 35 điểm ).Và mức độ tốt (tức là có câu trả lời đúng > 80% trên tổng số câu hỏi, tương ứng với tổng điểm kiến thức từ 36 điểm).
Qua kết quả nghiên cứu thu được cho thấy đa số NB có kiến thức tuân thủ điều trị COPD còn ở mức độ yếu là 50%; 38.3% ở mức độ trung bình; 10% mức độ khá và chỉ có 1,7% kiến thức mức độ tốt và điểm trung bình kiến thức tuân thủ điều trị đạt 21.81. Kết quả nghiên cứu này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thu Hiền (2017) điểm trung bình kiến thức tuân thủ điều trị đạt là 8,57 ± 3,07 và 100% NB có kiến thức tuân thủ điều trị BPTNMT được đánh giá mức độ yếu ( tỉ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của tôi kiến thức mức độ yếu là: 50%) [23].
Nghiên cứu của Alessandro Sanduzzi và cộng sự tiến hành tại Bệnh viện Monaldi, Đại học Federico II, Naples, Italia đưa ra 4 lý do chính khiến NB không tuân thủ điều trị có liên quan đến nhận thức tuân thủ điều trị bệnh của NB là chưa tốt là: Thứ nhất:
NB thấy việc tuân thủ điều trị quá phức tạp. Thứ hai: NB không nhận thức được
tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe. Thứ ba: NB không hiểu về tác dụng của thuốc.
Thứ tư: NB tin rằng bệnh sẽ tự khỏi [42].