TỔNG QUÁT VỀ MŨI

Một phần của tài liệu Nhân tướng học (hy trương) (Trang 112 - 152)

Về phương diện tác dụng của Ngũ Quan, Mũi chủ về phân biệt mùi vị nên được gọi là Thẩm biện quan . Trong số bốn cơ quan thâu nạp ngoại vật du nhập vào con người (thực phẩm, hình ảnh, mùi vị và âm thanh) thì mũi được mệnh danh là Tế Đậu (dòng sông có bến). Muốn đóng trọn vai trò của Tế đậu thì Mũi phải ngay thẳng, lỗ mũi phải thẳng và được che lấp gọi là dòng sông đầy nước. Ngược lại sống mũi xẹp gãy, lỗ mũi rộng trông rõ bên trong thì đượcví như dòng sông cạn nước trông rõ cả tới đáy.

Về mặt Ngũ Nhạc, Mũi giữ vai trò trung ương, làm chủ bốn núi còn lại.

Muốn là chủ được bốn núi thì Trung Nhạc phải cao, dày, vững vàng và phối hợp nhịp nhàng với hình thể của Đông Tây Nam Bắc Nhạc. Quá cao và nhọn trong khi bốn Nhạc kia quá thấp và lệch thì gọi là cô phong, núi đứng trơ trọi một mình thì chủ về thành bại thất thường. Quá thấp hoặc lệch hãm thì gọi Trung Nhạc liệt thế, khiến cho tất cả các Nhạc lâm vào cảnh Quần sơn vô chủ chủ về số phận lênh đênh kết quả không ra gì.

b) Các đặc thái của Mũi:

Dưới nhãn quan diện học, Mũi bao gồm luôn cả bên phải bên trái của sống Mũi tức là Lưỡng Quyền. Khi nói đến hạn kỳ ảnh hưởng của Mũi ta phải kể như các khu vực hữu quan đó thuộc về Mũi chứ không tách riêng làm Tam Nhạc.

1. Mũi về phương diện bộ vị (h120)

Dựa theo cách cấu tạo của Mũi, tướng học chia Mũi làm các bộ phận nhỏ dưới đây:

- Sơn Căn: phần gốc Mũi nằm ở khoảng giữa hai đầu mắt.

- Tỵ Lương: phần sống Mũi bao gồm từ Sơn Căn xuống đến phần giới hạn của hai cánh Mũi.

- Phần trên của Tỵ Lương (kế tiếp với Sơn Căn) gọi là Niên Thượng;

phần dưới gọi là Thọ Thượng

- Phần chót Mũi gọi là Chuần Đầu.

- Cánh Mũi bên phải gọi là Gián Đài; cánh bên trái gọi là Đình Úy.

- Khoảng chân của sống Mũi chạy dài từ đầu mắt phải tới Đình Úy gọi là Quang diện; từ đầu mắt trái tới Gián Đài gọi là Tinh xá.

2. Mũi và Cá tính tổng quát (h121):

Mũi là tấm ảnh thu gọn lại các cá tính tổng quát của con người bao gồm cả 3 mặt: trí, khí, lực tùy theo sự phát triển của 3 phần sau đây:

thẳng thắn, rộng nở hay không mà ta có thể biết sơ qua cá nhân đó có động lực là nguyên động lực trội yếu nhất chi phối mọi khả năng tiềm ẩn hay không.

Phần Chót Mũi (Chuần Đầu) chủ về Trí lực; sự phát triển của Chuần Đầu đi đôi với sự phát triển của trí tuệ.

Phần Cánh Mũi và hai bên Sống Mũi (phần Gián Đài, Đình Úy, Quang diện và Tịnh xá) chủ về Hoạt lực. Gián Đài, Đình Úy chỉ về Hoạt lực tích cực; Tịnh xá, Quang diện chủ về phần tiêu cực. Phần nào nổi bật nhất thì cá tính đó chiếm phần trội nhất.

3. Mức độ dài ngắn của Cánh Mũi:

Ở đây sự dài ngắn được xác đinh theo khuôn mặt của cá nhân đó. Cách xác định khoa học nhất là đo chiều dài Mũi từ Sơn Căn đến Chuần Đầu rồi so sánh với chiều dài toàn thể khuôn mặt từ chân tóc tới cuối Cằm.

Nếu chiều dài Mũi bằng 1/3 chiều dài khuôn mặt thì coi như trung bình;

trên tiêu chuẩn đó được coi là dài và dưới tiêu chuẩn đó được gọi là ngắn.

(h122)

Trên thực tế cách đo trên rất khó thực hiện vì khuôn mặt gồ ghề rất khó đo.

4. Mức độ cao thấp của Mũi:

Đối với người có kinh nghiệm và năng khiếu về nhân tướng học thì mức độ cao thấp rộng hẹp của Mũi được nhân ra tưc khắc nhờ trực giác bén nhạy và kinh nghiệm của họ.

Tuy vậy ta cũng có thể dựa vào tiêu chuẩn sau đây để định mức cao thấp của Mũi đối với khuôn mặt (hay nói đúnghơn là cao thấp của Trung Nhạc với phần còn lại của Ngũ Nhạc).

Từ trung điểm của Mũi (từ Sơn Căn đến Chuần Đầu) ta kẻ một đường song song với mặt phẳng của trán. Nếu đường thẳng đó trùng khít với mặt phẳng của trán (mặt

phẳng ở đây là mặt phẳng trung bình: chỗ bằng phẳng nhất. Trường hợp trán vát hoặc lồi thì lấy mặt phẳng đi qua trung điểm của trán làm chuẩn) thì là Mũi không cao, không thấp; không tiếp xúc với mặt phẳng trán là cao, chìm sâu dưới mặt phẳng trán là thấp (h123).

Độ rộng hẹp của Mũi có thể suy ra bằng cách so sánh độ ngang rộng nhất của hai cánh Mũi với bề ngang thực sự của khuôn mặt nhìn trực diện. Bề ngang chính diện của khuôn mặt coi như bao gồm trong khoảng hai đường thẳng song song kẻ từ hai điểm cuối cùng của cặp mắt. Nếu khoảng cách hai cánh Mũi quá 1/3 bề ngang thực sự của khuôn mặt thì coi Mũi thuộc loại rộng;

dưới mức độ đó được coi là hẹp (h124)

khía cạnh khác nữa.

a) Tương quan giữa Mũi và Cá tính:

1- Tham lam, keo kiệt:

Hai cánh mũi đầy đặn cân xứng, lỗ Mũi nhỏ (được coi là nhỏ khi không để lọt vào đầu ngón tay út) là biểu hiện của tính tham lam; Gián Đài, Đình Úy càng nảy nở, Mũi càng đầy thì tính “háo tụ nhi bất ưng xả” càng phát triển;

loại tính người như vậy bản tính tham lam, keo kiệt chỉ biết ăn của người.

Ngược lại Gián Đài và Đình Úy không rõ ràng, lỗ Mũi rộng là dấu hiệu của người hào phóng, coi rẻ tiên bạc vật chất. Mũi càng mỏng , càng dài thì cá tính trên càng rõ rệt.

2. Thông minh lanh lợi:

- Mũi có Sơn Căn cao, Sống mũi thẳng và không lệch

- Từ Sơn Căn lên đến Ấn Đường phía đầu Lông Mày co hai vệt như hình chữ bát hoặc ba vệt như hình chữ xuyên là dấu hiệu não bộ hoạt động tích cực, con người có khả năng tập trung cao độ.

- Lỗ mũi rộng có thể dùng đầu ngón tay thọc dễ dàng, lỗ mũi tự nhiên có sợi lông mọc ra ngoài là các dấu hiệu thông tuệ.

- Hai Cánh Mũi có thế chắc chắn cân xứng, và chân tay lanh lẹ là kẻ có tài mô phỏng khéo léo về kỹ thuật.

3. Lương thiện chính trực:

Dấu hiệu tổng quát là Mũi có mức độ dài, cao và rộng ở mức từ trung bình trở lên, Chuần Đầu tròn gãy Sống Mũi ngay ngắn, thẳng thắn, hai Cánh Mũi cân xứng và không lộ khổng. Mũi lớn thường là cát tướng nhưng quá lớn thì lại là “phản thường” biểu thị tính dục cuồng nhiệt, tâm địa cố chấp bướng bỉnh.

- Mũi dài lỗ mũi rộng, hình thế chắc chắn mạnh mẽ - Sống Mũi và Cánh Mũi cứng rắn: ý chí kiên cường

- Sơn Căn cao nhưng thiếu bề ngang là kẻ có khả năng trí tuệ khá, tâm địa chính trực nhưng không khoan dung hay vạch lá tìm sâu nên dễ gây thù oán. Kẻ Mũi ngắn mà nhỏ thường thường thiếu khí phách và kiến thức nông cạn. Tuy vậy nếu chỉ nhỏ ngắn, trông có vẻ mảnh khảnh, mà cân xứng ngay thẳng, thì tâm địa vẫn là thiện lương vô hại.

5. Gian trá độc hiểm:

Dấu hiệu tổng quát là hình dáng Mũi bất thường, đối nghịch lại với Mũi ngay thẳng.

- Mũi nhỏ mà ngắn, hình dạng ẻo lả là kẻ tâm địa nhu nhược, không dám làm điều gi nếu thấy hại cho mình, nếu lộ khổng nữa thì tâm địa bất chính

- Mũi mà Thân Mũi không thẳng (lệch: hoặc cong lên hoặc lõm xuống)

lỗ mũi hướng lên là kẻ nội tâm nham hiểm, không trọng đạo nghĩa, bất kể danh dự miễn sao có lợi cho họ là được

- Thân Mũi nhỏ, sống mũi mảnh và lộ xương là trong tựa như sống kiếm là kẻ cố chấp thiếu tự trọng và nhẫn nại.

- Mũi hình cong lên như móc câu hoặc gập xuống như mỏ chim ưng mà Chuần Đầu nhỏ, nhọn là kẻ tính tình trí trá, gian hiểm, độc hiểm. Theo cổ tướng học đó là Mũi đại ác không nên giao du.

b) Tương quan giữa Mũi và Phú quý, bần tiện:

Phàm Mũi ngay thẳng kích thước trên trung bình trở lên và cân xứng có sắc nhuận trạch là loại Mũi thượng cách, không giàu thì cũng đủ ăn mặc.

- Bề ngoài Mũi có sống tròn, thẳng như ống trúc hoặc chóp Mũi rộng như túi mật treo là loại tướng quý và phú, từ trung vận trở về sau sẽ thành đạt lớn.

- Mũi lớn, đầy đặn Cánh Mũi rõ và dầy là tướng của kẻ giàu có - Mũi cao trông chắc chắn là tướng quý hiển.

- Chuần Đầu tròn đầy, lỗ Mũi rộng cân xứng, sống mũi không gầy, là phúc tướng chủ về quý.

- Sơn Căn cao, nở gần ngang với Ấn Đường là tướng quý hiển

- Cánh Mũi cao tròn và cân xứng so với Thân Mũi thích nghi về hình thể là tướng quý; nếu hơi quá lớn thì là tướng phú kể từ trung vận.

- Mũi có nhiều lằn ngang dọc là tướng phá tài, rốt cuộc vãn vận sẽ khổ về tiền bạc

- Mũi mà cả thân mũi dù ngay thẳng nhưng quá gầy là tướng bần tiện - Chuần Đầu nhọn, mũi trên nhỏ mà dưới to mà mỏng là tướng bần hàn.

- Lỗ Mũi quá lớn và lộ dù toàn thể các bộ vị khác có tốt thì cũng không bao giờ giàu có.

- Lỗ mũi quá nhỏ, cánh mũi quá dày (dù hình thể đẹp) thì cũng không giữ được của cải. Nếu mũi nhỏ mà có tướng trên thì suốt đời làm vẫn không đủ ăn.

c) Tương quan giữa Mũi và gia vận:

1. Vận tốt:

Phàm Mũi đầy đặn (trường hợp người bình thường, không qúa gầy) Sống Mũi cao mà hình dáng tổng quát của Mũi trong tỏa ra vẻ thanh tú là tướng được hưởng gia vận phồn vinh thư thái về vãn vận.

- Kẻ có Mũi ngay ngắn và đầy đặn, khí sắc Mũi tươi nhuận là kẻ có tình cốt nhục thắm thiết. Các loại Mũi Tiêm Đồng (ống trúc) hoặc Huyền Đảm

2. Vận xấu:

Mũi có hình dạng thiếu tiêu chuẩn, lệch hãm hoặc bất thường là loại Mũi tượng trưng cho gia vận không được tốt lành

- Mũi bất kể tốt xâu mà có những lằn dọc rõ rệt là tướng của kẻ không người nối dõi, phải nuôi con người khác làm thừa kế. (hoặc số làm vợ người khác rồi nuôi con chồng làm con mình)

- Thân mũi gấp khúc nhiều đoạn là tướng cô độc, phá tài, tán gia sản.

Ngoài ra loại mũi này còn tượng trưng cho cốt nhục tương tranh nếu phối hợp với chỉ dấu khác của Lông Mày và Mắt cùng một ý nghĩa trên)

- Sông mũi hoặc hai cánh mũi lệch là dấu hiệu của cha mẹ bất toàn. Mũi lệch về phía trái thì cha mất, lệch về phái phải thì mẹ mất.

- Mũi lớn mà trơ xương là dấu hiệu cốt nhục vô tình, trọn đời khó tránh được khốn khổ.

- Mặt nhỏ mà Mũi lớn không phối hợp tương xứng với các bộ vị khác (đặc biệt là Ngũ Nhạc và Mày Mắt) là tướng bất thông, dù sinh ở gia đình phú túc thì vãn vận cũng khó tránh được nghèo khổ. Đồng thời đấy cũng là dấu hiệu phu phụ bất hòa.

- Nhìn chính diện mà thấy sống mũi đặc biệt trũng hẳn xuống so với Lưỡng Quyền thì đấy là dấu hiệu gia vận không được tốt, chồng hoặc vợ sớm phải ly biệt.

- Mũi có nhiều nếp xếp nằm ngang thì đó là dấu hiệu chia ly chồng vợ vì tranh chấp lứa đôi (vợ hoặc chồng có tính trăng hoa)

- Trên sống mũi có nốt ruồi là cảnh vợ chồng con cái được thịnh vướng nhưng chỉ một thời gian là hết

- Trán thấp, Lưỡng Quyền trũng, Cằm lẹm mà chỉ có Mũi đặc biệt tốt thì có thể hưởng vinh hoa phú túc một thời gian ngắn rồi từ trung niên trở đi tàn lụi dần, đến già tay trăng cô độc.

- Bên trái của Mũi mà lõm, trong khi bên phải bình thường là dấu hiệu vô duyên với cha (và ngược lại).

- Sống mũi có gằn máu nổi lên rõ rệt là dấu hiệu từ trung vận về sau luôn luôn bị vùi dập, và sống trong cảnh cô độc

- Đặc biệt là đàn bà mà Sơn Căn hay Ấn Đường bị khuyết hãm thì trong khoảng trung niên sẽ có đại biến động khiến thân thể tổn thương, tiền tài hao phá.

d) Tương quan giữa Mũi và thọ yểu:

1. Dấu hiệu trường thọ:

Phàm Mũi cao, vững, ngay ngắn, sắc thái tươi nhuận thanh thản là dấu hiệu trường thọ.

- Mũi dài mà không cong, không lệch - Sụn Mũi có khí thế cứng cáp

- Sống Mũi cao tròn, xương thịt tương xứng

- Hai cánh mũi nở nang và cân xứng, dáng vẻ mạnh mẽ - Sơn Căn cao và nở nang thích nghi với toàn bộ của Mũi - Sống Mũi đầy đặn dáng vẻ tươi tắn.

2. Dấu hiệu non yểu:

- Thịt mũi cơ hồ không có mà lại thấy sắc đen ám

- Thân Mũi có nhiều nốt ruồi đen là dấu hiệu đa bệnh, nội tạng suy nhược (càng là nốt ruồi sống càng dễ đoán)

- Thân Mũi trơ xương, hình dáng mũi cong lên như hình lưỡi câu là dấu hiệu chết bất ngờ ở quê người

- Thân Mũi không ngay thẳng hoặc gãy gập lại

- Hai bên cánh mũi nổi rõ những tia màu hồng (nếu mũi trắng nhạt) hoặc đỏ tía (nếu chỏm mũi màu hồng) là dấu hiệu dễ chết vì tim mạch - Thân Mũi có chấm đen như dấu móng chim sẻ để lại trên đất ướt đó là dấu hiệu nội tạng có bệnh ngấm ngầm sẽ chết khi các bệnh đó phát ra.

- Sơn Căn thấp, lệch hoặc quá hẹp

III CÁC LOẠI MŨI ĐIỂN HÌNH TRONG TƯỚNG HỌC 1. Hổ dương tỵ (h125)

Hổ dương tỵ hay còn gọi là Củng tỵ (vì thân mũi nảy nở và hơi cong vòng). Đặc điểm của Hổ dương tỵ là Mũi dài khác thường, thân Mũi lớn và cong đều đặn; ranh giới giữa Sống mũi, Gián Đài, Đình Úy không rõ rệt và gần như là cùng một khối. Trông ngang (trắc diện) thì Niên Thượng, Thọ Thượng cao hơn Chuần Đầu. Chuần Đầu tuy có thịt nhưng chỉ vừa phải kéo dài xuống phía Nhân Trung.

Mũi Hổ dương là loại Thẩm biên quan thành tựu chủ về phú hơn là quý. Phối hợp đắc cách với Lưỡng Quyền và các bộ vị khác Hổ dương tỵ là đại phú cách kiêm thiện cách.

2. Sư tử tỵ: (h126)

Sơn Căn thấp, Niên Thượng và Thọ Thượng rất thấp. Chuần Đầu đặc biệt phát triển và tròn trịa; Gián Đài và Đình Úy phát triển nảy nở, phân biệt rất rõ so với thân mũi. Nhìn thẳng, toàn bộ Mũi phát triển về bề ngang ở khu vực phía dưới. Mũi sư tử đúng cách thì chỏm của Chuần Đầu và hai cánh mũi gần như ở trên một mặt phẳng thẳng góc với lỗ mũi; lỗ mũi lớn nhưng không lộ.

Cổ tướng học xếp mũi sư tử vào loại Mũi thành tựu. Hình dạng mũi chạy cách mà lại có long mày, mắt và thân thể mang các đặc tính tổng quát của Sư tử hình là loại tướng đại phú quý. Chỉ có Mũi sư tử đúng cách còn kỳ dư là phá cách thì chỉ ở mức bình thường.

Mũi có nét tướng đặc biệt sau đây:

- Sống mũi tròn cao, thẳng tắp và ăn thông một mạch từ Chuần Đầu đến tận chân trán (vì trán là biểu tượng thu gọn của trời nên mới có danh là Thông thiên)

- Chuần Đầu tròn và hình dáng vừa phải, và ngang bằng với hai cánh mũi.

- Hai cánh mũi không nở rõ

- Mũi không lộ khổng và có bề dài ít nhất từ trung bình trở lên, xương thịt thích nghi.

Mũi thông thiên thuộc loại Thẩm biện quan thành tựu. Phối hợp đắc

cácnh với Bảo thọ quan và Giám sát quan, Mũi thông thiên là Mũi điển hình cho lọa tướng đại quý cách, quý hiển có thể lên đến tột đỉnh. Sách tướng cổ xưa nhận xét rằng kẻ có vị đến Ta công đều có Mũi thông thiên cả.

4. Mũi vượn (viên tỵ) h128:

Nói chung về tổng quát chiều dài,

- Cánh mũi nhỏ và trễ xuống hơn phần Chuần Đầu

Mũi vượn được coi là bình phàm không tốt, không xấu nếu chỉ xét riêng về Mũi theo quy định của tướng thuật. Phối hợp với tướng hình phảng phất như khỉ vượn và có một vài nét đặc dị về cá tính như: lanh lợi nhưng hay cáu giận; hay tư lự; thích trái cây hơn rượu thịt, thì kẻ có mũi vượn là kẻ tinh ranh láu lỉnh, không thích đảm đương công việc chân tay có tính cách nặng nhọc. Kẻ như vậy chỉ thích ứng công việc tiểu công nghệ nhẹ nhàng, sự thành công nếu có cũng chỉ ở mức trung bình. Tuy vậy, mũi vượn đắc cách và thích ứng với Ngũ Quan không khuyết hãm là tướng đủ ăn mặc, không lo đói rét suốt đời.

5.

Mũi khỉ (h129)

Một phần của tài liệu Nhân tướng học (hy trương) (Trang 112 - 152)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(433 trang)