CHƯƠNG 3: KHAI THÁC KĨ THUẬT HỆ THỐNG LÁI
3.1. Bảo dưỡng kĩ thuật
3.1.4 Quy trình dịch vụ thực hiện bảo dưỡng
Hình 3. 1 Sơ đồ quy trình dịch vụ thực hiện bảo dưỡng B1: Cố vấn dịch vụ liên hệ với khách hàng và hẹn xếp lịch bảo dưỡng.
B2: Khi khách đến Gara, cố vấn tiếp khách, tư vấn các hạng mục thực hiện bảo dưỡng.
B3: Cố vấn lập phiếu các hạng mục cần làm, danh sách phụ tùng thay thế và báo giá cho khách sách phụ tùng thay thế và báo giá cho khách.
B4: CVDV phối hợp với quản đốc phân công chi tiết công việc cho các KTV và tiến hành quy trình bảo dưỡng.
B5: Sau khi hoàn thành quy trình bảo dưỡng, thực hiện kiểm tra tổng thể lại và trả lệnh cho CVDV.
B6: Cố vấn dịch vụ gặp khách hàng làm các thủ tục thanh toán. Các giấy tờ liên quan để bàn giao xe lại cho khách hàng.
B7: Sau sửa chữa, khách hàng có thể liên hệ để phản hồi về chất lượng dịch vụ.
3.2. Một số hư hỏng và biện pháp khắc phục
Hệ thống lái phải đảm bảo cho ôtô chạy đúng hướng mong muốn, ở bất kỳ điều kiện đường xá nào và bất kỳ tốc độ nào của ôtô. Người lái không phải mất nhiều công sức để điều khiển vành tay lái, khi xe chạy thẳng cũng như khi thao tác
lái. Trong quá trình vận hành sử dụng xe, các chi tiết của hệ thống lái thường xuyên làm việc. Các chi tiết chịu ma sát sẽ bị mòn, dẫn đến rơ lỏng do đó làm sai lệch động học quay vòng, lốp sẽ bị mòn nhanh và có thể dẫn đến không an toàn trong chuyển động.
Vì vậy, phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện, sửa chữa, điều
chỉnh để phục hồi trạng thái kỹ thuật, điều kiện làm việc bình thường cho hệ thống lái, nhằm đảm bảo an toàn chuyển động cho xe.
Các hư hỏng thường gặp trên hệ thống lái được liệt kê trong bảng dưới đây:
Hiện tượng Nguyên nhân hư hỏng Cách khắc phục hư hỏng
1.Độ rơ Vô Lăng
Quá Lớn
- Do có nhiều khớp trong hệ thống lái, một sự rơ nhẹ là không tránh khỏi.
Tuy nhiên, độ rơ quá lớn là kết quả của sự lắp lỏng các chi tiết của hệ thống lái và mòn các khớp, dẫn đến xe đi chữ chi hay bị kéo lệch sang một phía và sẽ gây ra rung động và sự mòn khác thường của lốp.
1. Kiểm tra trục lái
- Nếu lỏng có thể do:
+ Vô lăng chưa bắt chặt với trục chính.
+ Trục tay lái lỏng.
+ Ổ bi trục chính lỏng.
1.Dịch chuyển vô lăng lên-xuống, trái-phải, sau-trước, Nếu có vấn đề xảy ra:
+ Xiết chặt lại.
+ Xiết chặt lại.
+ Thay thế ổ bi mới.
2. Kiểm tra độ rơ vô lăng - Nếu độ zơ vượt quá giới hạn chuẩn thì có thể do:
+ Đai ốc bắt vào vô lăng xiết không đủ chặt.
+ Lắp đặt hộp cơ cấu lái lỏng, cơ cấu lái mòn hay điều chỉnh không đúng.
+Khe hở ăn khớp quá lớn + Các khớp nối dẫn động
lái bị mòn.
+ Giá đỡ các thanh dẫn động lái bị bắt lỏng.
+ Lỏng ổ bi bánh xe.
+ Lỏng các khớp của trục lái chính.
2. Xoay bánh trước về vị trí hướng thẳng, rồi xoay nhẹ vô lăng sao cho không làm bánh trước quay.
Khoảng dịch chuyển của vô lăng khi đó được gọi là độ zơ của vô lăng. Giá trị giới hạn của độ zơ phụ thuộc vào kiểu xe nhưng nhìn chung không lớn hơn 30mm.
+ Xiết chặt lại.
+ Điều chỉnh, lắp đặt lại.
+ Điều chỉnh, sửa chữa hoặc thay thế.
+ Thay thế mới.
+ Xiết chặt lại.
+ Điều chỉnh lại.
+ Điều chỉnh lại.
3. Kiểm tra sự lỏng các thanh dẫn động lái
3. Nâng phần trước bánh xe lên, lắc các bánh trước theo các hướng trước-sau, phải-trái.Nếu có độ zơ quá lớn thì có thể các thanh dẫn
động lái hay các ổ bi bánh xe bị lỏng.
4.Kiểm tra lỏng của ổ bi bánh xe
4. Nâng phần trước của xe lên và kiểm tra lỏng bằng cách lắc phía trên và phía dưới của mỗi bánh xe + Nếu thấy lỏng thì có thể do các bộ đòn treo, các khớp cầu hay các ổ bi bánh xe bị lỏng
+Kiểm tra lỏng sau khi đạp phanh chân. Nếu độ lỏng giảm thì nguyên nhân có thể không phải do lỏng vòng bi bánh xe. Tuy nhiên nếu không còn thấy lỏng thì có thể lỏng ổ bi bánh xe là nguyên nhân duy nhất
2. Lái Nặng - Có thể do sức cản quá lớn trong hệ thống lái hay lực hồi vị quá lớn từ các bánh xe.
1. Kiểm tra áp suất lốp 1. Nếu áp suất lốp thấp thì ta phải bơm lốp
2. Kiểm tra hệ thống lái - Kiểm tra nguồn điện cung cấp cho mô tơ trợ lực.
- Kiểm tra dẫn động lái nếu ma sát quá lớn hỏng
chi tiết.
-Kiểm tra tải trọng ban đầu, nếu quá chặt gây nặng lái.
2.
- Kiểm tra nguồn và sửa chữa - Nâng phần trước xe lên. Tháo thanh dẫn động lái ra khỏi cơ cấu lái để cho phép kiểm tra riêng rẽ từng chi tiết. Nếu cơ cấu lái nặng thì nguyên nhân lái nặng có thể do có sự hỏng hóc trong cơ cấu lái, điều chỉnh tải trọng ban đầu không đúng, thiếu dầu mỡ, hay hỏng ổ bi hay bạc. Thay thế các chi tiết hỏng,
điều chỉnh và sửa chữa tải trọng ban đầu.
3. Kiểm tra khớp cầu hay trụ xoay
3. Tháo đòn cam quay ra khỏi thanh dẫn động lái và di chuyển đòn cam quay. Nếu quay nặng thì chốt xoay đứng hay khớp cầu có thể bị hỏng do ma sát lớn nên phải thay thế
4. Kiểm tra đòn treo (nếu cong hỏng)
4. Đòn treo cong hỏng phải thay thế
5. Kiểm tra chiều cao xe 5. Chiều cao xe sai lệch cũng gây lên nặng lái nên phải điều chỉnh lại 6. Kiểm tra góc đặt bánh
xe (góc caster góc nghiêng dọc trụ đứng)
6. Góc nghiêng dọc trụ đứng nếu sai thì điều chỉnh lại
3. Chạy Chữ Chi - Chạy chữ chi có nghĩa là xe có xu hướng không chạy theo hướng đánh tay lái. Lúc này người lái phải liên tục chỉnh tay lái để giữ xe chuyển động theo hướng mong muốn. Các nguyên nhân đã được đề cập ở mục “Độ Zơ
1. Kiểm tra áp suất lốp (nếu không đúng)
1. Nếu áp suất lốp không đúng thì bơm lốp. Kiểm tra cả 4 bánh 2. Kiểm tra hệ thống lái
- Kiểm tra trục chính và khớp nối nếu lỏng - Kiểm tra mức dầu cơ cấu lái (loại bi tuần hoàn) nếu THẤP
- Kiểm tra dẫn động lái quá rơ hay ma sát lớn làm hỏng chi tiết;
- Kiểm tra lắp vỏ cơ cấu lái hay cơ cấu lái nếu lỏng;
2.
- Xiết chặt hay thay các chi tiết hỏng
- Kiểm tra rò rỉ , đổ thêm hay sửa chữa
- Xiết chặt hay thay các chi tiết hỏng
-Xiết chặt;
Vô Lăng Quá Lớn”
và “Lái Nặng”
cũng có thể là nguyên nhân của hiện tượng này.
- Kiểm tra tải ban đầu và khe hở ăn khớp của cơ cấu lái;
- Kiểm tra vòng bi bánh xe (nếu lỏng hay mòn);
- Kiểm tra khớp cầu và trục xoay (nếu lỏng hay ma sát lớn gây mòn);
- Kiểm tra các đòn treo (nếu cong hỏng);
- Kiểm tra giảm chấn*
(nếu hỏng);
- Kiểm tra lò xo (nhíp) nếu yếu;
- Kiểm tra độ cao xe (nếu sai);
- Kiểm tra chiều rộng và chiều dài cơ sở (nếu sai) - Kiểm tra góc đặt bánh trước (nếu sai)
-Điều chỉnh, sửa hay thay;
- Điều chỉnh hoặc thay;
-Thay
- Thay
- Thay
- Thay
- Điều chỉnh hay thay
- Điều chỉnh
- Nếu góc caster quá nhỏ hay âm, nếu độ chụm hay độ mở quá lớn, cũng dẫn đến chạy chữ chi
4. Xe bị kéo sang một bên trong quá trình chạy bình thường
- Có nghĩa là xe có xu hướng chạy sang một bên trong khi người lái đang cố gắng cho xe chạy theo đường thẳng,
1. Kiểm tra lốp và bánh xe - Kiểm tra cỡ lốp
- Kiểm tra áp suất
- Kiểm tra phanh (nếu bị bó phanh)
- Kiểm tra khớp cầu hay chốt xoay
(mòn do ma sát quá lớn) - Kiểm tra vòng bi bánh xe (ma sát quá lớn gây mòn ổ
1.
- Nếu có sự khác nhau giữa đường kính ngoài của lốp trái và lốp phải thì quãng đường đi được sau một vòng quay của các bánh sẽ khác nhau. Kết quả là xe có xu hướng bị kéo sang bên trái hoặc phải khi nó tiến thẳng. Cần phải thay lốp cùng cỡ
hiện tượng này giống như khi có sự chênh lệch lớn về sức cản lăn giữa bánh trái và bánh phải hay mô men tác dụng quanh trục xoay đứng trái và phải
bi hay lắp ổ bi không đúng)
- Kiểm tra bạc, chốt hệ thống treo
(nếu mòn hay yếu)
- Kiểm tra giảm chấn (nếu hỏng)
- Kiểm tra lò xo hệ thống treo (yếu hay rão không đều)
- Kiểm tra độ cao xe (nếu sai)
- Kiểm tra chiều rộng và chiều dài cơ sở (nếu sai) - Kiểm tra góc đặt bánh trước(nếu sai)
- Nếu áp suất lốp giữa lốp trái và lốp phải khác nhau thì sẽ sinh ra sự khác nhau giữa sức cản lăn ở 2 bánh và dẫn đến xe bị kéo lệch sang trái hoặc phải. Nếu không đều phải bơm lại.
- Sửa chữa.
- Thay thế mới.
- Điều chỉnh hay thay thế - Thay thế mới.
- Thay thế mới - Thay thế mới
- Điều chỉnh hay thay.
- Điều chỉnh.
Xe cũng bị kéo lệch sang 1 phía nếu độ chụm hay độ mở quá lớn hay sự khác nhau giữa camber hoặc caster giữa 2 bánh quá lớn 5. Lắc tay lái
- Có nghĩa là vô lăng bị lắc theo hướng quay của nó do sự rung động của các bánh trước quanh trục bánh xe.
Hiện tượng rung cũng giống như lắc nhưng do nguyên nhân khác gây nên.(xem tài liệu trong phần tiếng ồn,
1. Kiểm tra lốp và bánh xe - Kiểm tra mòn lốp (nếu mòn không đều) - Kiểm tra áp suất bơm lốp(nếu sai)
- Kiểm tra độ đảo lốp (nếu quá đảo)
- Kiểm tra độ cân bằng*(nếu không cân bằng)
- Kiểm tra độ zơ vô lăng (quá zơ)
1.
-Thay lớp mới. Lốp mòn không đều có thể do hỏng trong hệ thống lái hay hệ thống treo. Nếu lắc tay lái được loại bỏ sau khi thay lốp mới, tiếp tục kiểm tra.
- Bơm lại - Thay lốp mới - Sửa chữa
- Điều chỉnh hay thay - Điều chỉnh
- Thay thế mới - Thay thế mới
rung động và tiếng ù).
[Tham khảo – Lắc tay lái được chia thành 2 kiểu: sự rung động dai dẳng mà xuất hiện ở tốc độ thấp (20 km/h đến 60 km/h) và sự rung động chỉ xuất hiện ở một tốc độ xác định trên 80 km/h ; kiểu sau được goi là
“Rung”.]
- Kiểm tra vòng bi bánh xe (nếu lỏng)
-Kiểm tra khớp dầu và chốt xoay (nếu mòn) - Kiểm tra đòn treo (nếu cong)
- Kiểm tra giảm chấn (nếu hỏng)
- Kiểm tra lò xo nếu rão - Kiểm tra độ cao xe (nếu sai)
- Kiểm tra góc đặt bánh trước (nếu sai)
- Thay thế mới - Thay thế mới - Điều chỉnh hay sửa
- Điều chỉnh lại cho đúng. Lắc tay lái cũng rất có thể do caster quá lớn. Độ chụm, độ mở hay camber quá lớn, hay camber không đều giữa bánh trái và phải cũng có thể gây ra lắc tay lái.
6. Sự nẩy ngược của vô lăng - Sự nẩy ngược của vô lăng có nghĩa là vô lăng bị giật do xóc khi bánh trước đột ngột va vào chướng ngại vật trên đường. Sự nẩy ngược nhẹ là bình thường nhưng nếu có sự nẩy ngược quá mạnh thì phải xem xét kiểm tra.
1.
- Kiểm tra áp suất lốp (không đều hay quá cao) - Kiểm tra độ zơ vô lăng (quá zơ)
- Kiểm tra vòng bi bánh xe (nếu lỏng)
-Kiểm tra khớp dầu và chốt xoay (nếu mòn) - Kiểm tra bạc hệ thống treo (nếu mòn hay yếu) - Kiểm tra giảm chấn (nếu hỏng)
- Kiểm tra lò xo (nhíp) nếu rão
1.
- Bơm lại cho đúng
- Điều chỉnh hay thay
- Điều chỉnh
- Thay thế mới
- Thay thế mới
- Thay thế mới
- Thay thế mới
- Điều chỉnh hay sửa
- Kiểm tra độ cao xe (nếu sai)
- Kiểm tra góc đặt bánh trước (nếu sai)
- Điều chỉnh
3.3. Một số quy trình khai thác cụ thể 3.3.1. Các lỗi thường gặp trên hệ thống lái
3.3.2. Quy trình xử lý mã lỗi
a. Quy trình xử lý mã lỗi C1512/ C1513/ C1514/ C1517
b. Quy trình xử lý mã lỗi C1524/ C1555
c. Quy trình xử lý mã lỗi C1516
3.3.2. Sửa chữa các chi tiết trong hệ thống lái
Để xác định mức độ mài mòn và tính chất sửa chữa, phải tháo rời các chi tiết trong hệ thống lái.
Khi tháo tay lái và đòn quay đứng phải dùng vam tháo. Những hư hỏng chính của các chi tiết hệ thống lái là: mòn thanh răng – bánh răng, ống lót, vòng bi và ổ lắp vòng bi. Mặt bích bắt chặt cacte bị sứt mẻ và nứt, mòn bạc ở cácte dành cho ổ bi kim đở ổ trục của đòn quay đứng và các chi tiết của khớp cầu thanh chuyển hướng, thanh chuyển hướng bị cong.
Phải thay thanh răng của cơ cấu lái nếu bề mặt làm việc của thanh răng mòn rỏ rệt hay lớp tôi bị tróc ra. Thải bỏ cung răng nếu bề mặt có khe nứt hay vết lõm.
Cổ trục của đòn quay đứng, nếu mòn thì phải phục hồi bằng cách mạ crôm rồi mài theo kích thước danh nghĩa. Cổ trục có thể phục hồi bằng cách lắp vào cacte những ống lót bằng đồng thanh đã được mài theo kích thước sửa chữa. Đầu có ren của đầu trục đòn quay đứng nếu bị cháy thì phục hồi bằng cách hàn đắp bằng hồ quang điện rung.
Trước hết phải tiện hết ren củ trên máy tiện rồi hàn đắp kim loại, tiện trên kích thước danh nghĩa định và cắt ren mới. Trục của đòn quay đứng nếu bị xoắn thì phải loại bỏ.
Các ổ lắp vòng bi cơ cấu lái, nếu bị mòn thì phục hồi bằng cách lắp thêm chi tiết phụ. Muốn vậy phải khoan rộng lỗ, lắp ép vào đó một ống lót và gia công đường kính trong của nó theo kích thước của vòng bi.
Những chổ sứt mẻ và khe nứt trên mặt bích cacte khắt phục bằng phương pháp hàn. Thường dùng hàn khí, có nung nóng toàn bộ chi tiết trước khi hàn.
Lỗ trên cácte dành cho ổ bi kim đở trục tròn quay đứng niếu bị mòn thì doa lại theo kích thước sửa chữa.
Trong cơ cấu dẫn động lái, chốt cầu và máng lót thanh chuyển hướng ngang bị mòn nhanh hơn, còn các đầu thì mòn ít hơn. Ngoài ra còn có những hư hỏng khác là do mòn lổ ở mút thanh, cháy ren, lò xo ép các máng đệm vào chốt cầu bị gãy hoặc yếu.
Tuỳ theo tính chất mài mòn mà xác định khả năng tiếp tục sử dụng của nắp thanh chuyển hướng ngang hay từng chi tiết. Nếu cần thiết thì tháo rời khớp của nắp. Muốn
vậy, tháo chốt chẻ của nút ren, vặn nút ra khỏi lổ rồi tháo chi tiết ra. Chốt cầu bị mòn, bị sứt mẻ hay có vết xước, cần thay mới. Đồng thời lắp máng lót mới của chốt cầu. Thay mới các lò xo mòn hoặc gãy.
Những hư hỏng đặc trưng của bộ trợ lực lái là không có lực tác dụng ở bất kỳ tần số quay nào của động cơ, lực không đủ lớn và không đồng điều khi quay tay lái sang bên này hay bên kia.
Để khắc phục hư hỏng trên phải kiểm tra kĩ lưỡng các bộ phận điều khiền và cơ cấu chấp hành của hệ thống lái điện bao gồm kiểm tra mã lỗi qua máy chẩn đoán, đo kiểm tra nguồn cấp đến mô tơ trợ lực lái, các cầu chì cấp nguồn….
3.4. Quy trình kiểm tra, tháo lắp chi tiết 3.4.1. Quy trình kiểm tra
a. Kiểm tra độ zơ vô lăng
Độ zơ vô lăng được định nghĩa như sau: xoay bánh trước về vị trí hướng thẳng, rồi xoay nhẹ vô lăng sao cho không làm bánh trước quay. Khoảng dịch chuyển của vô lăng khi đó được gọi là độ zơ của vô lăng.
Giá trị giới hạn cho phép của độ zơ vô lăng được quy định theo TCVN, đối với các dòng xe thuộc các phân khúc như xe Kia, độ zơ vô lăng nhỏ hơn 180. Khi độ zơ vô lăng lớn hơn giá trị tiêu chuẩn sẽ làm ảnh hưởng đến cảm giác lái và làm mất an toàn khi tham gia giao thông. Độ zơ vô lăng có thể được gây ra do các nguyên nhân sau đây:
• Đai ốc bắt vô lăng xiết không đủ chặt.
• Cơ cấu lái mòn hay điều chỉnh không đúng.
• Các khớp nối dẫn động lái bị mòn.
• Giá đỡ các thanh dẫn động lái bị bắt lỏng.
• Lỏng ổ bi bánh xe.
• Lỏng các khớp của trục lái chính.
Quy trình kiểm tra độ zơ vô lăng bao gồm các bước như sau:
Bước 1: Cho xe lên cầu, điều chỉnh thẳng lái;
Bước 2: Bước này cần 2 kĩ thuật viên thực hiện đồng thời, kĩ thuật viên ở trên khoang lái xoay vô lăng, kĩ thuật viên ở dưới giữ bánh xe sao cho bánh xe không dịch chuyển. Khoảng dịch chuyển trên vô lăng đo lại và so sánh với tiêu chuẩn (180). Nếu giá trị lớn hơn tiêu chuẩn cần kiểm tra các nguyên nhân có thể gây ra độ zơ.