CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định danh lục thành phần loài vi tảo nước ngọt ở Thừa Thiên Huế.
Xác định mật độ, sự phân bố các loài theo từng khu vực nghiên cứu.
Nghiên cứu tiềm năng của các vi tảo trong sản xuất nhiên liệu sinh học thông qua: Tài liệu công bố, sinh trưởng và phát triển trong phòng thí nghiệm,
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tham khảo và kế thừa các loại sách, báo, tạp chí trong và ngoài nước cũng như các tài liệu, báo cáo khoa học có liên quan đến đề tài.
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu thực địa
Mẫu được lấy từ một số thủy vực trong thành phố Huế và các trằm (bàu) ở huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế.
Mẫu định tính được thu bằng lưới với Phytoplankton có kích cỡ mắt lưới 20 – 25 àm, mẫu sau khi thu được cho vào chai hoặc hộp nhựa và cố định mẫu bằng formol 4%. Mẫu định lượng thu bằng xô hoặc dụng cụ lấy mẫu nước kiểu ngang
(horizontal water sampler). Sau đó lấy khoảng 1,5 lít nước cho vào chai và cố định mẫu bằng formol 1%.
Bên cạnh đó, tại các điểm thu mẫu chúng tôi sử dụng máy định vị GPS Garmin (GPSmap 78) để xác định vị trí, dùng máy đo chất lượng nước đa thông số Horiba U- 5000 đo các thông số môi trường nước như nhiệt độ, pH, DO, độ đục…
2.3.4. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Phân tích định tính: Quan sát mẫu dưới kính hiển vi quang học có gắn máy ảnh. Chụp ảnh và vẽ lại những đặc điểm chi tiết quan sát được của mẫu. Căn cứ vào quan sát trực tiếp, hình ảnh chụp, vẽ hình chi tiết các đặc điểm, ghi chú cụ thể để định danh bằng phương pháp hình thái so sánh, sử dụng các khóa định danh phổ biến hiện hành đối với các ngành tảo. Các loài được so sánh với các tài liệu phân loại như của, “Freshwater Algae of North America” (John D. Wehr, Robert G.
Sheath, J. Patrick Kociolek, 2015), “The plankton in south Viet Nam” (A. Shirota, 1996) , “Tảo nước ngọt Việt Nam” (Dương Đức Tiến, Võ Hành, 1997) và thông qua các bài báo và tạp chí đã đăng tải trước đó.
Tên loài được cập nhật và hiệu chỉnh dựa theo Guiry & Guiry, (2019) (www.algaebase.org). Danh lục của loài tảo lục phù du được sắp xếp dựa trên hệ thống của Cavalier - Smith T. (1998).
Phân tích định lượng: Mẫu định lượng thu về được để lắng, sau đó hút bỏ phần nước phía trên, dùng ống đong đo thể tích lượng mẫu cô đặc. Lắc đều mẫu cô đặc, dùng pipette hút 1ml mẫu cô đặc bỏ lên buồng đếm Sedgewick Rafter để đếm số lượng tế bào. Sau đó, mật độ tập đoàn/L, sợi/L và tế bào/L được tính dựa trên tế bào đếm được.
Phân lập và nuôi tảo: Phân lập tảo sử dụng kỹ thuật tách tế bào đơn (hoặc tập đoàn riêng lẻ) bằng pasteur pipette. Sử dụng pasteur pipette để hút mẫu trên lam, làm sạch mẫu bằng thao tác chuyển đối tượng cần phân lập qua nhiều giọt môi trường trên lam kính cho đến khi quan sát thấy sạch và sau đó đưa vào giếng nuôi cấy đã chứa sẵn môi trường. Môi trường nuôi cấy tảo lục phù du được sử dụng là môi trường BBM, Z8 (pH = 6,6). Ghi chú thời gian cũng như loài phân lập. Dùng bao bọc thực phẩm bọc kín giếng nuôi để tránh các tác động từ bên ngoài làm tảo bị
nhiễm, khi tảo thích ứng với môi trường sẽ trải qua quá trình sinh trưởng, phát triển và khi tảo sử dụng gần hết chất dinh dưỡng (ở pha cân bằng), dùng pasteur pipette trộn đều giếng có chứa tảo sau đó hút qua chai 100ml (5 chai) đã có sẵn môi trường nuôi cấy, mẫu tảo được chia đều cho 5 chai, tương tự sau một thời gian sau (15 ngày) sẽ lấy chai mà tảo sinh trưởng tốt nhất để chuyển qua nuôi cấy qua chai 500ml (3 chai), sau 1 tháng sẽ chuyển qua bình nuôi 20 lít . Nuôi tảo trong phòng thí nghiệm với chế độ chiếu sáng 12/24 với nhiệt độ từ 26ºC - 28ºC. Theo dõi quá trình sinh sản của tảo và ghi chép lại.