CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.2. Đặc điểm phân bố của vi tảo ở tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2.1. Phân bố số lượng loài vi tảo ở các thuỷ vực nghiên cứu
Các loại hình thuỷ vực khác nhau thường đưa đến sự khác biệt về số lượng và cấu trúc thành phần loài vi tảo. Ở nghiên cứu này, qua hai đợt khảo sát chúng tôi nhận thấy số lượng loài vi tảo phù du có mặt ở các thuỷ vực dao động trong khoảng từ 7 loài (PĐ2, PĐ4) đến 59 loài (PĐ1). Số lượng thành phần loài này có sự khác biệt khá rõ tuỳ theo loại hình thuỷ vực (Bảng 3.2; Hình 3.2).
Bảng 3.2. Số lượng loài thuộc các ngành tảo ở các điểm khảo sát
STT Ngành Thủy vực
nước đứng Thủy vực
nước chảy Vùng cát
HTM HXT HTT HTH SNH SH SNY PĐ1 PĐ2 PĐ3 PĐ4 PĐ5
1 Cyanobacteria 5 4 1 3 1 1 2 1 0 1 0 4
2 Bacillariophyta 1 1 4 1 2 5 1 1 1 1 3 6
3 Miozoa 1 2 0 1 0 0 0 0 0 4 0 0
4 Ochrophyta 0 0 1 0 1 0 0 1 0 1 0 0
5 Charophyta 0 1 1 2 1 2 0 16 0 5 1 2
6 Chlorophyta 27 29 16 12 11 12 12 37 0 21 1 30
7 Euglenozoa 10 5 10 4 5 1 1 3 6 4 2 10
Tổng 44 41 33 23 21 21 16 59 7 37 7 52
Hình 3.2. Phân bố số lượng loài vi tảo tại các điểm khảo sát Ghi chú:
HTM: Hồ Tân Miếu SH: Sông Hương
HTH: Hộ Thành Hào PĐ1: Phong Điền 1
HTT: Hồ Tịnh Tâm PĐ2: Phong Điền 2
HXT: Hồ Xã Tắc PĐ3: Phong Điền 3
SNY: Sông Như Ý PĐ4: Phong Điền 4
SNH: Sông Ngự Hà PĐ5: Phong Điền 5
Dựa vào biểu đồ ta thấy rằng, số lượng các loài vi tảo có sự chênh lệch nhau rõ rệt giữa các địa điểm thu mẫu. Các thuỷ vực khảo sát có số lượng loài cao (trung bình là 39 loài) bao gồm chủ yếu các thuỷ vực nước đứng (HTM, HTT, HXT). Các địa điểm thu mẫu có số lượng loài thấp hơn thuộc dạng thuỷ vực nước chảy, sông đào hay kênh đào (HTH, SNH, SH, SNY). Riêng các địa điểm thu mẫu tại vùng cát huyện Phong Điền có số lượng loài thay đổi lớn, điểm PĐ1, PĐ5 là kênh đào tù đọng, khiến môi trường nước ở đây gần như là nước đứng nên có số loài cao (59 và 52 loài), các điểm còn lại là các bàu tự nhiên, quá trình lưu thông nước phụ thuộc hoạt động sản xuất nông nghiệp và mực nước cũng thay đổi lớn theo mùa nên số
lượng loài trung bình thấp (17 loài). Dù vậy, khi đánh giá sự khác biệt số lượng loài tảo bằng phân tích ANOVA ghi nhận không có sự khác biệt thống kê về số lượng loài giữa các loại hình thuỷ vực (Ft = 1,288 < Fcrit = 4,27, P = 0,32) nên bước đầu chúng tôi chỉ có thể cho rằng số lượng loài vi tảo trung bình có xu hướng tăng dần từ các loại hình thuỷ vực sông, kênh thành phố Huế < vùng cát Phong Điền < các thuỷ vực nước đứng trong thành phố Huế.
Cụ thể hơn, trong số 206 loài và dưới loài ghi nhận được, chúng tôi xác định các thuỷ vực nước đứng có 62 loài, nước chảy có 39 loài và ở vùng cát có 105 loài.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận các loài phổ biến ở mỗi vùng như sau (ở thủy nước chảy phổ biến là loài Actinastrum gracillimum, Crucigenia rectangularis, Pediastrum duplex, Scenedesmus denticulatus, Scenedesmus obliquus, Lepocinclis acus, Merosira granulata; ở thủy vực nước chảy loài phổ biến nhất là Mererosira granulata; Scenedesmus quaricauda là loài thường gặp tại các địa điểm ở vùng cát). Tuy nhiên, đối với mỗi vùng, có thể do sự đặc trưng về hình thái, loại hình thuỷ vực, môi trường và dinh dưỡng, cũng có sự hiện diện khác nhau.
Và một số loài thường gặp ở vùng cát mà các địa điểm khác không có như:
Sphaerocystis sp., Ankistrodesmus gracilis, Eudorina elegans, Micractinium pusillum, Monoraphidium sp., Occystis borgei, Scenedesmus apiculatus, Scenedesmus gutwinskii var. heterospira, Euglena splendens, Euglena viridis…..)
Hình 3.3. Biểu đồ thể hiện sự phân bố của các loài vi tảo tại các loại hình thủy vực Bên cạnh những thay đổi, khác biệt số lượng loài theo không gian phân bố, vi tảo ở các thuỷ vực khảo sát cũng thể hiện có sự khác biệt theo thời gian được thể hiện biểu đồ sau:
Hình 3.4. Phân bố số lượng các loài vi tảo ở các điểm thu mẫu qua 2 đợt khảo sát
Qua hai đợt thu mẫu thu được 206 loài. Đợt 1 thu được 198 loài: Ngành Chlorophyta chiếm ưu thế nhất với 107 loài, kế đến là ngành tảo Euglenozoa với 30 loài, ngành Charophyta với 25 loài, ngành Bacillariophyta với 16 loài, ngành Cyanobacteria với 11 loài, ngành Miozoa với 5 loài, chiếm thấp nhất là ngành Ochrophyta với 4 loài. Trong khí đó, ở đợt 2 thu nhận được 162 loài (thấp hơn so với ở đợt 1), trong đó ngành Chlorophyta vẫn chiếm ưu thế nhất với 91 loài, kế đến là ngành Euglenozoa với 22 loài, ngành Cyanobacteria với 18 loài, ngành Charophyta với 17 loài, ngành Bacillariophyta với 12 loài, ngành Miozoa với 2 loài, chiếm thấp nhất là ngành Ochrophyta với 0 loài. Nhìn chung, thành phần loài phát hiện ở hai đợt không có sự khác biệt lớn, tuy nhiên có sự chuyển biến trong cấu trúc quần xã từ đợt 1 sang đợt 2, cụ thể ngành tảo Chlorophyta (giảm 16 loài) và Euglenozoa (giảm 8 loài), Bacillariophyta (giảm 4 loài), Miozoa (giảm 3 loài),
ngành Charophyta (giảm 8), ngành Ochrophyta thì không có loài nào xuất hiện vào đợt 2, riêng ngành Cyanobacteria có sự gia tăng số lượng loài (tăng 7 loài).