Phân lập và nuôi sinh khối vi tảo tiềm năng sản xuất nhiên liệu sinh học

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ sinh học (Trang 65 - 71)

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.3. Các loài vi tảo có tiềm năng sản xuất nhiên liệu sinh học ở tỉnh Thừa Thiên Huế

3.3.3. Phân lập và nuôi sinh khối vi tảo tiềm năng sản xuất nhiên liệu sinh học

Từ kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy phân lập và nuôi thành công loài tảo thuộc chi ScenedesmusCoelastrum trong môi trường BBM và Z8. Tuy nhiên, do vấn đề thời gian nghiên cứu nên chúng tôi hiện chỉ nuôi và thu sinh khối thành công được 3 loài vi tảo thuộc chi Scenedesmus tại phòng thí nghiệm Trường ĐHKH Huế.

Qua quá trình nuôi và cấy chuyền từ giếng, sang chai 100 ml, và sang chai 500ml. Đến giai đoạn này thì chúng tôi sẽ chọn ra chai 500 ml mà tảo phát triển mạnh và không bị nhiễm khuẩn để đem chuyển vào môi trường đã được pha sẵn ở bình 20 lít, chúng tôi cho 250ml tảo vào trong bình nuôi 20 lít (Khi pha môi trường ở bình 20 lít thì chúng tôi đã sử dụng nước máy và đến giai đoạn này thì sẽ bỏ qua phần hấp môi trường mà chúng tôi chỉ tiến hành đo chỉ số pH), điều kiện trong phòng thí nghiệm vô trùng với nhiệt độ là từ 26 – 28 0C, chiếu sáng 12/24 giờ.

Hình 3.26. Các loài vi tảo được nuôi cấy trong chai 100ml trong phòng thí nghiệm

Hình 3.27. Các loài vi tảo được nuôi cấy trong bình 500ml trong phòng thí nghiệm

Hình 3.28. Các loài vi tảo được nuôi ở bình 20 lít trong phòng thí nghiệm (sau 9 ngày)

Hình 3.29. Ba loài vi tảo được nuôi ở bình 20 lít trong phòng thí nghiệm (Sau gần 54 ngày)

Các loài này được đánh giá là chiết xuất của chúng có khả năng dùng làm phân bón rất tốt. Ngoài ra, qua quá trình phân lập phổ biến là vi tảo lục lượng lipid được xác định cho các loài dựa vào sự tăng trưởng tương đối nhanh, Scenedesmus

có tốc độ tăng trưởng cao, hàm lượng lipid ổn định, là tiềm năng để sản xuất sinh khối và nguyên liệu biodiesel bền vững.

Qua giá trị mật độ tảo được phân tích như trên đã xác định được loài Scenedesmus là loài chiếm ưu thế. Vì vậy, có thể sử dụng loài này ở Thừa Thiên Huế trong việc nghiên cứu phát triển các sản phẩm phục vụ cho đời sống của con người.

Kết quả đã phân lập và nuôi cấy thành công được 3 loài vi tảo, quan sát cho thấy có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Các loài này được xem là có triển vọng lớn trong tương lai vì là loài bản địa, có thể sinh trưởng tốt và trong thời gian tới chúng tôi sẽ tiếp tục tiến hành nghiên cứu, thu sinh khối để chiết xuất các hoạt chất phục vụ cho thử nghiệm sản xuất dầu sinh học và chế tạo phân bón sinh học.

Do vấn đề về thời gian và công việc nên qua quá trình nuôi cấy thì chúng tôi chỉ thiết lập đường cong sinh trưởng trong 17 ngày, còn sau đó thì chúng tôi quan sát sự sinh trưởng và phát triển của vi tảo thông qua việc thay đổi màu sắc của tảo để thu sinh khối nên để lựa chọn ra thời gian thu sinh khối một cách chính xác là không thể.

Hình 3.30. Đường cong sinh trưởng của 3 loài vi tảo trong 17 ngày

Qua đường cong sinh trường của 3 loài tảo được đem vào nuôi cấy thu sinh khối ta thấy được rằng tuy cùng một chi nhưng tốc độ sinh trưởng của các loài cũng có một sự chênh lệch nhất định, dựa vào biểu đồ ta thấy tốc độ sinh trưởng của Scenedesmus obliquus nhanh hơn so với hai loài còn lại. Nhưng nhìn chung thì 3 loài này đều có tốc độ sinh trưởng, phát triển ổn định trong phòng thí nghiệm.

Scenedesmus obliquus Scenedesmus quadricauda Hình 3.31. Thu sinh khối thành công các loài vi tảo

Thời gian chúng tôi tiến hành nuôi cấy trong bình 20 lít là 74 ngày và sau đó chúng tôi đã tiến hành thu sinh khối. Tảo sau khi dừng nuôi cấy được dùng để nghiên cứu thu hoạch. Lấy hỗn hợp 1 lít tảo nước cho vào cốc đong 1 lít, chuẩn bị giấy lọc cú kớch thước lỗ lọc 1 – 3 àm đem sấy khụ trong 1 h ở nhiệt độ 100 0C sau đó đem đi cân để xác định khối lượng giấy lọc ban đầu. Lắp đặt thiết bị lọc, máy hút chân không và bắt đầu lọc. Phần sinh khối tảo được giữ lại trên giấy lọc được đem đi sấy trong tủ sấy ở 800C trong vòng 24 h. Kết quả là thu được 2,4g/l khối lượng đã sấy khô đối với mỗi loài vi tảo. Đây cũng là bước khởi đầu làm tiền đề để sản xuất nhiên liệu sinh học từ vi tảo.

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ sinh học (Trang 65 - 71)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(88 trang)
w