Tăng c ờng hợp tác quốc tế và phối hợp chặt chẽ gi a các cơ

Một phần của tài liệu §Ò c­ng luën v¨n tèt nghiöp (Trang 41 - 45)

III.2- Một số giải pháp phòng ngừa ngăn chặn tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả

3. Tăng c ờng hợp tác quốc tế và phối hợp chặt chẽ gi a các cơ

sở sản xuất kinh doanh với các cơ quan khoa học trong công tác phòng ngừa ngăn chặn sản xuất và buôn bán hàng giả:

Thế giới đang trong xu thế hình thành một thị trờng chung.

Xuất phát từ sự phát triển và tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, một cuộc cách mạng có tính hai mặt, vừa là thời cơ, vừa là thách thức, cuộc cách mạng này xoá đi tình biệt lập, khép kín, tự cung tự cấp truyền thống của một số nớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Quốc tế hoá, toàn cầu hoá là một xu thế của thời đại, là một yêu cầu tất yếu khách quan, ngày càng hình thành rõ rệt.

Cùng với xu thế quốc tế hoá mọi mặt tích cực của đời sống xã

hội, thì tình hình quốc tế hoá các loại tội phạm, trong đó có tội phạm sản xuất và buôn bán hàng giả cũng là một tất yếu khách quan. Trong những năm trớc, nhất là thời kỳ bao cấp, khi khoa học công nghệ cha phát triển, Nhà nớc thêu nớc ngoài in tiền, hoặc khi Ngân hàng Nhà n- ớc có máy in tiền (K84) thì Nhà nớc độc quyền in tiền, tội phạm cha in

đợc tiền, nên cha có tiền giả. Trong những năm của thời kỳ mở cửa, đã

kéo theo sự móc nói giữa tội phạm trong nớc với nớc ngoài. Tiền giả

đợc in từ nớc ngoài chuyển vào Việt Nam không ít, thậm chí có một số

Châu Diệu Linh 41

đối tợng là tội phạm đã nắm bắt đợc khoa học – công nghệ, sử dụng phơng tiện kỹ thuật hiện đại in đợc tiền giả, cũng nh sản xuất các loại hàng giả khác là công cụ t liệu sản xuất, hàng hoá tiêu dùng nh thuốc chữa bệnh, hàng điện tử, điện lạnh gia dụng, thuốc trừ sâu... đã đợc các đội tợng trong nớc móc nối với các đối tợng chuyên sản xuất hàng giả từ nớc ngoaì vận chuyển lậu vào Việt Nam, hoặc tự sản xuất trong nớc, đa ra tiêu thụ trên thị trờng ngày càng nhiều...Trên thực tế, công cuộc hợp tác quốc tế phòng chống tội phạm trên các lĩnh vực nh:

chống ma tuý, chống buôn lậu, chống các loại tội phạm hình sự có tổ chức... của nớc ta với các tổ chức quốc tế đã đạt đợc nhiều kết quả

đang ghi nhận. Nhng hợp tác quốc tế về phòng chống tội phạm sản xuất và buôn bán hàng giả cha đợc quan tâm đúng mức, do đó công tác phòng chống tội phạm sản xuất và buôn bán hàng giả của ta cha

đáp ứng với yêu câù nhiệm vụ trong tình hình hiện nay. Do vậy, mở rộng đối ngoại, nhằm khai thác tốt những nhân tố tích cực trong công tác phòng chống tội phạm sản xuất và buôn bán hàng giả là hết sức cần thiết, là một nhu cầu tất yếu khách quan. Chính vì vậy quan hệ hợp tác quốc tế cần tập trung vào các nội dung sau:

Quan tâm hơn nữa đến biện pháp kiểm soát biên giới với vai trò của lực lợng Hải quan. Hải quan là cơ quan có trách nhiệm trong việc thực hiện các biện pháp kiểm soát biên giới. Theo quy định của Pháp lệnh hải quan, tất cả hàng hoá, hành lý xuất, nhập khẩu, phơng tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh và quá cảnh đều phải khai báo với hải quan và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của hải quan. Hải quan chỉ cho phép giải phóng hàng hoá hoặc phơng tiện vận tải khi bộ hồ sơ, chứng từ đi kèm hàng hoá và phơng tiện vận tải đó cũng nh các thủ tục cần thiết đợc thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật Việt nam. Bên cạnh việc kiểm tra, kiểm soát công khia đối với hoạt động xuất nhập khẩu và xuất nhập cảnh, Hải quan Việt nam còn tiến hành các hoạt động điều tra, ngăn chặn, trấn áp đối với các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh trái phép diễn ra tại các địa điểm ngoài cửa khẩu dọc theo biên giới, bờ biển.

Các Bộ, Ngành chức năng chủ động phối hợp với chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật của các nớc có đờng biên giới với nớc ta phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn sự móc nối giữa tội phạm sản xuất

và buôn bán hàng giả trong nớc với tội phạm sản xuất và buôn bán hàng giả các nớc trên thế giới, nhất là các nớc có quan hệ trao đổi hàng hoá nhiều và thuận lợi với nớc ta.

Đồng thời với tăng cờng mối quan hệ hợp tác quốc tế, do đặc

điểm của trình độ khoa học công nghệ và sản xuất trong nớc nên vấn

đề thứ hai đặt ra là: Các tổ chức và cá nhân sản xuất và kinh doanh trong nớc, cần phải tăng cờng phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên môn, cơ quan bảo hiểm ở trung ơng và địa phơng, từ khâu cấp, quản lý, kiểm tra giấy phép sản xuất, kinh doanh cho đến việc nghiên cứu sản xuất ra những hàng hoá có tính riêng biệt, đặc thù từ nội dung cho đến mẫu mã, bao bì, chủ động phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật, phát hiện những tổ chức, đờng dây chuyên sản xuất và buôn bán hàng giả theo hàng của mình, hoặc nói cách khác: các tổ chức và doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh phải chủ động tự bảo vệ chính mình. Có nhiều phơng pháp mà các doanh nghiệp có thể sử dụng nh:

tạo ra những kiểu dáng công nghiệp, kiểu bao bì đặc chủng, mã số, mã

vạch, tem đặc chủng... Kiểu dáng công nghiệp thì tốn thời gian và tiền bạc nên khó làm nhất. Mã số, mã vạch cho những thông tin đầy đủ về nhà sản xuất, nơi sản xuất và nếu sử dụng mực in đặc chủng phát quang có thể dùng đèn cực tím chuyên dụng để phát hiện thật giả.

Hình thức dùng tem đặc chủng là tiện dụng nhất. Ưu điểm của con tem là mang đợc đầy đủ các thông tin mà ngời sản xuất muốn chuyển tải đến ngời mua nh tên công ty, địa chỉ, điện thoại, cam kết của ngời sản xuất với ngời mua về sản phẩm của mình nh: tem bảo hành, tem chính hiệu...Tính chất tiện dụng của con tem cũng rất cao vi dụ chỉ cần một con tem có thể dán lên nhiều loại hàng của công ty mình. Giá

thành một con tem trong giá thành chung của sản phẩm lại không cao.

Ngoài ra, con tem còn làm vật trang trí cho sản phẩm thêm hấp dẫn và dễ thu hút ngời mua. Các doanh nghiệp tuỳ nghi lựa chọn theo sản phẩm để giữ gìn không bị hàng giả, hàng nhái vi phạm.

Châu Diệu Linh 43

KÕt luËn

Nạn hàng giả, hàng nhái gây tổn thất cho mọi nền kinh tế của mọi đất nớc. Mỗi năm, nạn làm hàng giả gây tổn thất khoảng 250 tỷ euro. Tại Châu âu, khoảng 200.000 việc làm bị mất đi do nạn làm hàng giả. Hàng nhái làm lu mờ hình ảnh của nhãn hiệu và làm mất lòng tin của ngời tiêu dùng. Việt nam cam kết hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật nhất là về mặt bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để phù hợp với các quy định của Hiệp định TRIPS (ADPIC) cũng để bảo vệ nền kinh tế, quyền lợi của các doanh nghiệp, lợi ích hợp pháp của ngời tiêu dùng khỏi ảnh hởng của hàng nhái và hàng giả. Bản thân doanh nghiệp và ngời tiêu dùng cũng phải tự biết cách bảo vệ mình. Theo Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi ngời tiêu dùng của Uỷ ban thờng trực quốc hội số 13/1999/PL – UBTVQH10 thì ngời tiêu dùng có 6 quyền lợi từ Điều 8 đến Điều 13. Chứng tỏ Nhà nớc ta luôn quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân sản xuất, sinh hoạt, làm tròn đợc nghĩa vụ với Nhà nớc nhng vẫn đảm bảo đợc quyền lợi của bản thân. Nếu xuất hiện các hành vi cạnh tranh bất chính, ngời bị vi phạm có nhiều khả năng pháp luật nhằm chống lại các sai phạm đó để bảo vệ các quyền lợi tài sản của mình – ba biện pháp cơ bản: các biện pháp dân sự, hành chính và hình sự. Tựu chung lại, vấn đề hàng giả, hàng nhái đối với các nớc phát triển đã không còn mới mẻ, nhng do trình độ phát triển kinh tế-

xã hội mà kinh nghiệm Việt nam cha bắt kịp với trình độ phát triển chung của thế giới. Trong phạm vi đề tài này, tôi đã cố gắng nghiên cứu có tính chất hệ thống trên cơ sở phân tích những tài liệu và văn bản pháp luật hiện hành có đợc để tìm ra đợc những thiếu sót, bất cập và đề ra phơng hớng giải quyết. Nhng kinh nghiệm và khả năng nhận thức bản thân hạn chế, nguồn tài liệu lại hiếm nên có thể còn thiếu sót.

Rất mong đợc sự thông cảm của các thầy cô và các bạn.

Danh mục tài liệu tham khảo

Một phần của tài liệu §Ò c­ng luën v¨n tèt nghiöp (Trang 41 - 45)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(46 trang)
w