PHÂN LOẠI TÀI KHOẢN KẾ TOÁN

Một phần của tài liệu Giáo trình nguyên lý kế toán (Trang 56 - 59)

Loại 3: Nguyên tắc ghi chép vào tài khoản phản ánh các quá trình kinh doanh

4.3. PHÂN LOẠI TÀI KHOẢN KẾ TOÁN

Loại tài khoản này đƣợc sử dụng để phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có ở DN. Bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.

- Nhóm tài khoản phản ánh tài sản ngắn hạn: Dựa vào nhóm những tài khoản này, người sử dụng thông tin nắm được giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn bao gồm các loại tiền, các khoản phải thu, giá trị đầu tƣ tài chính ngắn hạn, ...

- Nhóm tài khoản phản ánh tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn là những tài sản có thời gian thu hồi vốn dài, luân chuyển chậm (thường trên một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh trở lên). Thuộc nhóm này gồm có các tài khoản phản ánh TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính, các khoản phải thu dài hạn, bất động sản đầu tƣ và các khoản đầu tƣ tài chính dài hạn ...

4.3.1.2. Loại tài khoản phản ánh nguồn hình thành tài sản

Do tài sản của DN đƣợc hình thành từ 2 nguồn chủ yếu nên loại tài khoản này cũng đƣợc chia thành 2 nhóm:

- Nhóm tài khoản phản ánh vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, do các chủ sở hữu đóng góp ban đầu và bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh. Vì thế, nhóm này bao gồm những tài khoản phản ánh vốn đầu tƣ của chủ sở hữu, nguồn vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản, các quỹ DN, lợi nhuận sau thuế chƣa phân phối ...

- Nhóm tài khoản phản ánh các khoản nợ phải trả

Đây là những tài khoản đƣợc sử dụng để theo dõi các khoản nợ, vay và nghĩa vụ phải đóng góp của DN. Thuộc loại này bao gồm các tài khoản phản ánh tiền vay, phản ánh số phải trả cho người bán, phải trả người lao động, ...

4.3.1.3. Loại tài khoản phản ánh doanh thu và thu nhập từ các hoạt động kinh doanh Thông qua các tài khoản này, kế toán sẽ phản ánh đƣợc toàn bộ các khoản doanh thu, thu nhập cũng nhƣ các tài khoản làm giảm doanh thu, thu nhập của các hoạt động kinh doanh. Từ đó, xác định đƣợc tổng số doanh thu thuần (và thu nhập thuần). Thuộc loại này gồm các tài khoản phản ánh doanh thu bán hàng và thu nhập của hoạt động tài chính, hoạt động bất thường.

4.3.1.4. Loại tài khoản phản ánh chi phí hoạt động kinh doanh

Đây là các tài khoản dùng để tập hợp và kết chuyển chi phí thuộc các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động bất thường. Thuộc loại này gồm các tài khoản phản ánh chi phí: Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí bán hàng ...

Việc phân loại tài khoản theo nội dung kinh tế là cơ sở cho việc xây dựng hệ thống tài khoản kế toán thống nhất đồng thời là căn cứ thống nhất để mỗi DN lựa chọn tài khoản phù hợp với điều kiện cụ thể của mình.

4.3.2. Phân loại theo công dụng và kết cấu

Theo cách phân loại này các tài khoản đƣợc chia làm 3 loại: Loại tài khoản cơ bản, loại tài khoản điều chỉnh và loại tài khoản nghiệp vụ.

4.3.2.1. Loại tài khoản cơ bản

Là những tài khoản đƣợc dùng để phản ánh trực tiếp tình hình biến động của vốn theo cả theo tài sản và nguồn hình thành tài sản. Thuộc tài khoản cơ bản bao gồm 3 nhóm: Nhóm tài khoản phản ánh tài sản, nguồn vốn và hỗn hợp.

- Nhóm tài khoản phản ánh tài sản nhƣ tài khoản tài sản cố định hữu hình, tiền mặt.

- Nhóm tài khoản phản ánh nguồn vốn (nguồn hình thành tài sản còn gọi là nhóm tài sản phản ánh công nợ và vốn chủ sở hữu) nhƣ tài khoản vay ngắn hạn, vay dài hạn…

- Nhóm tài khoản hỗn hợp (còn gọi là nhóm tài khoản bất định) nhƣ các tài khoản Phải thu của khách hàng, phải trả cho người bán.

4.3.2.2. Loại tài khoản điều chỉnh

Tài khoản điều chỉnh là tài khoản đƣợc sử dụng để tính toán các chỉ tiêu đã đƣợc phản ánh ở các tài khoản cơ bản nhằm cung cấp các số liệu xác thực về tình hình tài sản tại thời điểm tính toán. Nhƣ vậy sự tồn tại của tài khoản điều chỉnh luôn gắn với loại tài khoản cơ bản.

- Nhóm tài khoản điều chỉnh gián tiếp giá trị của tài sản: Dựa vào những tài khoản này để tính ra giá trị còn lại của tài sản hay giá trị thực của tài sản.

Giá trị còn lại TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ – Hao mòn TSCĐ (4.4) Giá trị thực của TS = Giá trị ghi sổ - Giá trị dự phòng (4.5)

Ví dụ: Hao mòn tài sản cố định hữu hình, hao mòn tài sản cố định thuê tài chính, hao mòn tài sản cố định thuê tài chính, dự phòng giảm giá đầu tƣ ngắn hạn, dài hạn, dự phòng nợ phải thu khó đòi.

- Nhóm tài khoản điều chỉnh trực tiếp giá trị của tài sản: Dựa vào những tài khoản này kế toán tiến hành điều chỉnh giá trị tài sản tăng thêm hoặc giảm đi do những tác động bên ngoài.

Ví dụ: Chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỉ giá hối đoái.

4.3.2.4. Loại tài khoản nghiệp vụ

Là tài khoản có công dụng tập hợp số liệu cần thiết rồi từ đó sử dụng các phương pháp mang tính nghiệp vụ kĩ thuật để xử lí số liệu. Căn cứ vào công dụng cụ thể và kết cấu của tài khoản, tài khoản này đƣợc chia là các nhóm sau:

- Nhóm tài khoản phân phối là nhóm những tài khoản dùng để tập hợp số liệu rồi từ đó phân phối cho các đối tƣợng liên quan. Thuộc nhóm này gồm các tài khoản dùng để tập hợp số liệu và phân phối theo dự toán

+ Các tài khoản tập hợp phân phối nhƣ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí bán hàng…

+ Các tài khoản phân phối theo dự toán gồm các tài khoản phản ánh các khoản chi phí phát sinh theo dự toán đã lập từ trước (chi phí phải trả) hoặc khi đã phát sinh sẽ lập dự toán phân phối cho các đối tượng sử dụng (chi phí trả trước).

- Nhóm tài khoản tính giá thành đƣợc sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành của DN

- Nhóm tài khoản so sánh đƣợc sử dụng để xác định các chỉ tiêu cần thiết về hoạt động kinh doanh bằng cách so sánh giữa bên Nợ và bên Có. Thuộc loại tài khoản này có các tài khoản phản ánh doanh thu, thu nhập từ hoạt động tài chính, ...

4.3.3. Phân loại theo mối quan hệ với báo cáo tài chính

Căn cứ vào mối quan hệ giữa các nội dung đƣợc theo dõi trên các tài khoản với những chỉ tiêu đƣợc trình bày trong các báo cáo tài chính kế toán có thể chia hệ thống tài khoản thành 3 loại sau đây:

4.3.3.1. Tài khoản thuộc bảng cân đối kế toán

Là những tài khoản có số dƣ cuối kỳ ở bên Nợ hoặc bên Có, phản ánh toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo giá trị và theo nguồn hình thành tài sản. Những tài khoản này lại đƣợc chia ra làm 2 loại theo hai phần cơ bản của bảng cân đối kế toán: Tài khoản “tài sản” và tài khoản “nguồn vốn”

Nhóm tài khoản “Tài sản”

Nó bao gồm các tài khoản phản ánh các đối tƣợng kế toán nằm bên phần tài sản của Bảng cân đối kế toán đƣợc gọi là nhóm tài khoản tài sản. Nhóm này gồm 2 loại chính là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.

Nhóm tài khoản “Nguồn vốn”

Nó bao gồm các tài khoản phản ánh các đối tƣợng kế toán nằm bên phần nguồn vốn của Bảng cân đối kế toán đƣợc gọi là nhóm tài khoản nguồn vốn. Nhóm này gồm 2 loại chính là nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

4.3.3.2. Tài khoản thuộc báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Đây là những tài khoản không có số dƣ thuộc các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, thu nhập.

Căn cứ vào nội dung các chỉ tiêu đƣợc trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ta có 3 loại tài khoản: Tài khoản doanh thu; tài khoản chi phí và tài khoản xác định kết quả. Đây là những tài khoản phản ảnh quá trình kinh doanh và kết quả lãi (lỗ) của từng kỳ kế toán.

4.3.4. Phân loại theo mức độ khái quát của đối tƣợng kế toán

- Tài khoản tổng hợp dùng để theo dõi và cung cấp thông tin tổng quát nhất về đối tƣợng phản ánh.

- Tài khoản chi tiết dùng để theo dõi và cung cấp thông tin chi tiết về từng đối tƣợng cụ thể, nhằm phục vụ chỉ đạo tác nghiệp.

Một phần của tài liệu Giáo trình nguyên lý kế toán (Trang 56 - 59)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(129 trang)