Tình hình các nghiên cứu bệnh đái tháo đường tuýp 2 tại Việt Nam

Một phần của tài liệu Thực trạng kiến thức về chế độ ăn của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 điều trị nội trú tại khoa nội iii bệnh viện y học cổ truyền bộ công an năm 2022 (Trang 21 - 40)

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.2. Tình hình các nghiên cứu bệnh đái tháo đường tuýp 2 tại Việt Nam

Theo Nguyễn Huy Cường, năm 1999 – 2001, đã tiến hành điều tra 3.555 người từ 15 tuổi trở lên ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chung ở nội và ngoại thành Hà Nội là 2,42%. Trong đó 64% mới phát hiện, tỷ lệ nội thành là 4,31% và ngoại thành là 0,61% [33].

Nghiên cứu của Ngô Thanh Nguyên và cs (2012), nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở đối tượng từ 30 tuổi trở lên tại thành phố Biên Hòa năm 2011 cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ người 30 trở lên là 8,1%, trong đó nữ là 51,9% và nam là 48,1%

[34].

Theo Phạm Thị Lan Anh: Nghiên cứu trà nụ vối, lá ổi, lá sen có tác dụng làm chậm tiến triển ĐTĐ, kiểm soát đường máu sau ăn, kiểm soát đường máu lâu dài trên bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2. So sánh nhóm chứng với nhóm sử dụng loại trà này có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [35].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Lành năm 2014: Thực trạng bệnh ĐTĐ, tiền ĐTĐ ở người Khmer tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp cho kết quả. Qua điều tra 1100 người dân, tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường là 11,91%, trong đó tỷ lệ mới phát hiện 78,6% trên tổng số bệnh nhân [36].24

Các nghiên cứu trên đây phần nào góp tiếng nói trong lĩnh vực dịch tễ học, ĐTĐ và y học dự phòng. Tỷ lệ mắc TĐTĐ – ĐTĐ có vẻ rất khác nhau giữa các vùng trong nước, tỷ lệ mắc ĐTĐ thay đổi nhiều theo từng nghiên cứu có thể do đốitượng khác nhau, tiêu chuẩn chẩn đoán của ĐTĐ thay đổi cùng với tình trạng đô thị hóa nhanh chóng, kinh tế xã hội phát triển, lối sống tĩnh tại hưởng thụ dẫn đến con người tiếp xúc nhiều yếu tố nguy cơ trong cộng đồng làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đặc biệt là ĐTĐ tuýp 2 trong những năm gần đây.

Nghiên cứu của tác giải Nguyễn Thị Ái Xuân trên 330 người bệnh đái tháo đường điều trị tại khoa Nội Tim mạch – Nội tiết Bệnh viện Quận Bình Thạnh năm 2014 – 2015 cho thấy: Tỷ lệ người bệnh đái tháo đường có kiến thức đúng về tuân thủ điều trị là 73,9%. Thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường:

tuân thủ dinh dưỡng 78,8%, tuân thủ hoạt động thể lực 62,1%, tuân thủ dùng thuốc 71,2%, tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám định kỳ 26,4%. Có thể thấy, vẫn còn 26% người bệnh có kiến thức chưa đúng. Việc người bệnh không có kiến thức đúng về tuân thủ điều trị ĐTĐ có thể gây những hậu quả nguy hiểm. Nghiên cứu cũng cho rằng việc trang bị kiến thức về tuân thủ điều trị ĐTĐ có thể giúp người bệnh ngăn ngừa được những diễn biến xấu và có hướng xử trí kịp thời. Mục tiêu đầu tiên của điều trị ĐTĐ là chế độ ăn uống và tập luyện, để thay đổi một thói quen trong ăn uống là rất khó nên cần hướng dẫn người bệnh thực hiện tốt chế độ ăn uống giúp hạn chế biến chứng xảy ra và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Đặc biệt nghiên cứu của Bùi Nam Trung và Đỗ Quang Tuyền về kiến thức và thực hành tuân thủ chế độ dinh dưỡng ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 tại bệnh viện lão khoa trung tương năm 2012 cho thấy, Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng về lựa chọn các thực phẩm chiếm tỷ lệ khá cao: có tới 98,8% bệnh nhân lựa chọn đúng là ăn các loại rau, để tăng cường chất xơ và giúp làm giảm quá trình hấp thu glucose. Trong khi đó kiến thức đúng về các loại thực phẩm cần tránh như dưa hấu chỉ đạt 17,6%, dứa đạt 21,5 %. Điều này có thể do người bệnh chưa quan tâm đúng mức tới chế độ ăn kiêng trong khi đó chế độ ăn

kiêng là một phần quan trọng trong chiến lược điều trị nhằm kiểm soát đường huyết cũng như phòng biến chứng của bệnh. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, bệnh nhân ĐTĐ nên hạn chế ăn những thực phẩm có chỉ số đường cao như bánh mỳ, bột dong, dưa hấu, dứa, các loại khoai nướng… và tăng cường chất xơ như các loại rau củ quả. Đồng thời bệnh nhân cũng tránh bữa ăn lớn, chia nhỏ thành nhiều bữa gồm 3 bữa chính, 1-3 bữa phụ để giúp cho bệnh nhân ổn định đường máu không bị tăng quá cao sau bữa ăn và cũng không bị hạ quá khi xa bữa ăn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra có đến 44,8 % bệnh nhân ăn ít rau quả hơn so với khuyến cáo, tần suất tiêu thụ các thực phẩm theo khuyến cáo chiếm tỷ lệ cao nhất là rau, các loại trái cây (xoài, chuối, táo, nho), các loại đậu (đậu phụ). Trong khi các thực phẩm có chỉ số đường huyết cao không nên ăn như dứa, bánh mỳ trắng, dưa hấu, …thì mức độ tiêu thụ dứa hàng ngày chiếm tỷ lệ cao nhất. Việc thực hành không đúng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhiều bệnh nhân nghe dân gian truyền miệng cho rằng ăn dứa rất tốt cho người già. Ngoài ra một số bệnh nhân còn cho rằng nhân viên y tế tư vấn chung chung chưa cụ thể, không biết là mình nên ăn hay không nên ăn loại thực phẩm nào. Việc thực hành không đúng lựa chọn các thực phẩm ăn hàng ngày chắc chắn sẽ ảnh hưởng không tốt đến kết quả điều trị bệnh, rất khó kiểm soát nồng độ đường huyết và nhanh xuất hiện các biến chứng của bệnh đái tháo đường.

Như vậy với các nghiên cứu được thực hiện tại nhiều nơi, nhiều đối tượng, có thể nhận thấy vẫn có những tồn tại thiếu hụt kiến thức về chế dộ ăn của người bệnh. Đó có thể là nguyên nhân dẫn đến việc tuân thủ chế độ ăn của người bệnh chưa thật tốt. Các nghiên cứu cũng đều khuyến cáo công tác tuyên truyền tư vấn về chế độ ăn cho người bệnh đái tháo đường tuýp 2 là hết sức quan trọng.

Chương 2

MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

2.1. Giới thiệu về Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an

Bệnh viện Y học cổ truyền, Bộ Công an, địa chỉ số 278 - Đường Lương Thế Vinh – Phường Trung Văn, Q. Nam Từ Liêm –TP. Hà Nội là Bệnh viện Hạng I đầu ngành về YHCT trong lực lượng CAND, có nhiệm vụ khám, chữa bệnh; Kế thừa và nghiên cứu khoa học; Đào tạo cán bộ y tế; Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật; Phòng bệnh;

Hợp tác quốc tế; Tổ chức bào chế, sản xuất thuốc y học cổ truyền theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an đáp ứng nhu cầu chữa bệnh tại Bệnh viện; Thực hiện những nhiệm vụ khác thuộc chức năng của Bệnh viện Y học cổ truyền do Bộ trưởng giao. Tham gia vào sự nghiệp y tế cộng đồng theo quy định của Nhà nước và Bộ Công an.

Tiền thân là Phòng Chẩn trị Y học dân tộc, được thành lập ngày 28/06/1986. Trong tiến trình xây dựng và trưởng thành, từ 2012 tới nay Bệnh viện YHCT đã có quy mô 400 giường điều trị nội trú với 20 khoa phòng, với hơn 700 cán bộ chiến sỹ, công nhân viên trong đó: 1 phó giáo sư, 25 tiến sỹ, chuyên khoa II, 65 thạc sỹ, chuyên khoa I, đại học 217, còn lại là các trình độ khác. Đã được đầu tư trang thiết bị hiện đại (City, MRI, X-Quang tăng sáng truyền hình kỹ thuật mới, máy đo độ loãng xương, siêu âm mầu 3 chiều, điện tim 6 cần, nội soi, máy xét nghiệm sinh hóa, tổng phân tích máu tự động, laze phẫu thuật...). CBCS của Bệnh viện có nhiều cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo chuyên sâu trong và ngoài nước. Trong những năm qua Bệnh viện Y học cổ truyền luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ cao cấp, CBCS trong lực lượng CAND và bệnh nhân bảo hiểm tự, nguyện đồng thời làm tốt công tác y tế cộng đồng.

Về chuyên môn

Kết hợp sáng tạo giữa y học hiện đại và y học cổ truyền, thừa kế hiệu quả các phương pháp chữa bệnh của dân tộc. Bệnh viện đã điều trị được nhiều ca bệnh khó như:

Bệnh lý hậu môn, tiết niệu, tiền liệt tuyến, viêm gan, zona thần kinh, viêm đa khớp, tai biến mạch máu não, bàn chân tiểu đường, thoát vị đĩa đệm và thành công bước đầu trong hỗ trợ điều trị ung thư, nâng cao chất lượng sống cuối đời…Vì vậy, trong những năm qua cùng với sự phát triển của Bệnh viện, số lượng Bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện ngày càng tăng không ngừng: Năm 2005 có 18.993 bệnh nhân ; Đến năm

2010 có 37.606 bệnh nhân; Đến năm 2013 đã có 90.976 bệnh nhân. Công suất sử dụng giường bệnh luôn đạt trên 100%. Đến 06 tháng đầu năm 2022 đã khám và điều trị cho hơn 54.000 lượt bệnh nhân.

Giới thiệu về khoa Nội III.

Khoa Nội 3: Tổng số hiện có 34 nhân viên: Trong đó: Bác sỹ: 12. Điều dưỡng – Kỹ thuật viên: 18. Y công, CNV: 04, với chức năng, nhiệm vụ: thuộc Bệnh viện Y học cổ truyền, có trách nhiệm giúp Giám đốc Bệnh viện sử dụng các phương pháp y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại để tổ chức tiếp đón, khám bệnh, điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh bệnh lý tim mạch, rối loạn chuyển theo quy định của Nhà nước và Bộ công an. Khoa được giao 60 giường bệnh nhân nội trú, 6 tháng đầu năm khoa điều trị cho 675 bệnh nhân nội trú trong đó hơn 400 bệnh nhân tiểu đường tuýp 2.

2.2. Thực trạng kiến thức về chế độ ăn của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 điều trị nội trú tại Khoa Nội III Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an năm 2022

Qua khảo sát 80 NB ĐTĐ tuýp 2 điều trị nội trú tại Khoa Nội III Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ công an. Thời gian: tháng 6 năm 2022, với phương pháp điều tra mô tả cắt ngang bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn thu được kết quả sau

2.2.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 2.1. Tỷ lệ đái tháo đường tuýp 2 theo giới và tuổi (n=80)

Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Giới tính Nam 42 52,5

Nữ 38 47,5

Tuổi 18- 30 18 22,5

31-60 25 31,25

> 60 37 46,25

Nhận xét: Có 80 đối tượng tham gia nghiên cứu với tỷ lệ nam 52,5%, nữ 47,5%. Tỷ lệ ĐTĐ theo nhóm tuổi 18-30; 31-60; >60 lần lượt là 22,5%; 31,25%;

46,25. Tuổi của đối tượng không phân bố đều, nhóm >60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 46,25%, thấp nhất ở nhóm 18-30 tuổi là 22,5%.

Bảng 2.2. Tình trạng học vấn, nghề nghiệp, kinh tế của người ĐTĐ tuýp 2( n=80)

Nội dung Số lượng (n) Tỷ lệ %

Trình độ học vấn

Tiểu học 6 7,5

THCS 29 36,25

THPT 13 16,25

Trung cấp trở lên 27 33,75

Mù chữ 5 6,25

Nghề nghiệp

Nông lâm nghiệp/ thủy sản 20 25,0

Làm thuê 2 2,5

Hưu trí 44 55,0

Công nhân, viên chức nhà nước 8 10,0

Sản xuất kinh doanh cá thể 4 5,0

Nội trợ/không có việc làm 2 2,5

Kinh tế gia đình

>10 triệu/người/tháng 9 11,25

5-10 triệu/người/tháng 36 45

<5 triệu/người/tháng 26 32,5

Cận nghèo/nghèo 8 10

Không trả lời 1 1,25

Nhận xét: Phần lớn người bệnh có trình độ học vấn ở mức trung học cơ sở 36,25%, nhóm công nhân viên chức nhà nước 10,0%, hưu trí là 55,0%; người làm nông lâm nghiệp/thủy sản tỷ lệ mắc bệnh là 25,0%. Người nghèo - cận nghèo là 1,25%.

Bảng 2.3. Tiền sử gia đình có mắc ĐTĐ tuýp 2 của ĐTNC theo giới

Giới Tiền sử gia đình mắc ĐTĐ tuýp 2

Có Không

Nam n 8 34

% 19 81

Nữ n 6 32

% 15,8 84,5

Chung n 14 66

% 17,5 82,5

Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng có tiền sử gia đình (bố, mẹ, anh, chị em ruột) mắc ĐTĐ tuýp 2 là 17,5% và không có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ tuýp 2 là 82,5%.

Biểu đồ 2.1: Thông tin về chế độ ăn ĐTĐ đối tượng nghiên cứu nhận được Nhận xét: Trong 80 đối tượng nghiên cứu chỉ có 31% không nhận được thông tin về chế độ ăn người bệnh ĐTĐ, 69% nhận được thông tin qua các nguồn khác nhau.

31%

69%

Không Có

Bảng 2.4: Nguồn thông tin chính người bệnh nhận được (n=55)

Nguồn thông tin Số lượng (n) Tỷ lệ %

Phương tiện truyền thông, sách báo 26 47.3

Bạn bè/Người thân 15 27.3

Nhân viên y tế 9 16.4

Khác 5 9

Nhận xét: Bảng 2.3 cho chúng ta thấy đa số các đối tượng tiếp nhận các thông tin từ phương tiện truyền thông, sách báo (47.3%) và thấp nhất là từ nhân viên y tế 16.4%.

2.2.2. Kiến thức về chế độ ăn của người bệnh đái tháo đường tuýp 2

Bảng 2.5. Kiến thức của người bệnh ĐTĐ về tác dụng của chế độ ăn (n=80)

Nội dung

Trả lời đúng Trả lời sai Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Chế độ ăn hợp lý giúp ổn định đường

máu

55 69 25 31

Chế độ ăn hợp lý là biện pháp quan trọng để hạn chế các biến chứng

31 39 49 61

Nhận xét: chỉ có 69% NB biết có một chế độ ăn hợp lý giúp ổn định đường máu và có tới 61% người bệnh chưa biết rằng chế độ ăn hợp lý là một trong các biện pháp quan trọng để hạn chế biến chứng của bệnh ĐTĐ.

Bảng 2.6. Kiến thức của người bệnh ĐTĐ về chế độ ăn (n=80)

Nội dung

Trả lời

đúng Trả lời sai

SL TL

% SL TL

%

Ăn hạn chế đường 75 93,7 5 6,3

Ăn hạn chế muối 60 74,5 20 25,5

Ăn hạn chế mỡ 32 39,8 48 60,2

Ăn tăng cường rau xanh 34 42,9 46 57,1 Mang theo ít bánh/kẹo đề phòng hạ đường huyết 14 17,5 66 82,5

Chia thành nhiều bữa nhỏ 15 18,7 65 81,3

Thói quen ăn sáng 46 57,1 34 42,9

Cách lựa chọn và sử dụng quả 42 52,0 38 48

Lựa chọn và sử dụng thực phẩm có nhiều chất đạm 24 29,6 56 70,4 Lựa chọn và sử dụng các loại dầu mỡ 27 33,7 53 66,3 Lựa chọn và sử dụng các loại đồ uống 43 53,8 37 46,2

Nhận xét: Phần lớn người bệnh có nhận thức đúng về việc ăn hạn chế đường chiếm 93,7%, chế độ ăn hạn chế muối có tới 74,5% người bệnh trả lời đúng. Tuy nhiên kiến thức về ăn hạn chế mỡ, chia khẩu phần ăn thành nhiều bữa nhỏ, việc mang theo ít bánh/kẹo đề phòng hạ đường huyết vẫn có tỷ lệ lớn người bệnh nhận thức không đúng lần lượt là: 60,2%, 81,3% và 82,5%.

Bảng 2.7. Kiến thức của người bệnh ĐTĐ về cách chế biến thức ăn (n=80)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ %

Chiên/ xào/ nướng 8 10

Luộc chín 45 56,3

Hầm kỹ 20 25

Không biết 7 8,7

Nhận xét: người bệnh chưa có nhiều kiến thức về chế biến thức ăn có 56,3% người trả lời là nên luộc chín, số còn lại 25% cho rằng thức ăn hầm kỹ, chiên xào nướng 10%, không biết 8,7%.

Bảng 2.8. Kiến thức của người bệnh ĐTĐ về các thức ăn nên tránh (n=80)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ %

Hoa quả khô 25 31,3

Bánh kẹo nước ngọt 75 93,8

Thịt chứa nhiều mỡ 64 80

Tinh bột 76 95

Thực phẩm đóng hộp, chế biến sẵn 43 53,8

Nhận xét: người bệnh đã nhận biết một số thực phẩm cần tránh như bánh kẹo, nước ngọt (93,8%), tinh bột 95%, thịt chứa nhiều nỡ 80%.Thực phẩm hoa quả khô vẫn còn một số lượng lớn người bệnh nhận thức chưa đúng.

Bảng 2.9. Kiến thức của người ĐTĐ về thời điểm ăn hợp lý (n=80)

Nội dung Trả lời đúng Trả lời sai

Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %

Chia nhiều bữa nhỏ 43 53,8 37 46,2

Không bỏ bữa 50 62,5 30 37,5

Không ăn quá no 58 72,5 22 27,5

Trước khi tập luyện, lao động nặng người bệnh nên bổ sung năng lượng phù hợp với cường độ làm việc

30 37,5 50 62,5

Nhận xét: nhận thức đúng về chia nhiều bữa nhỏ, không bỏ bữa và không ăn quá no của người bệnh chiếm tỷ lệ lớn lần lượt là 53,8%, 62,5%, 72,5%. Nhưng có tới 62,5% người bệnh chưa nhận thức được việc trước khi tập luyện, lao động nặng người bệnh nên bổ sung năng lượng phù hợp với cường độ làm việc.

Bảng 2.10: Điểm trung bình kiến thức về chế độ ăn của người bệnh ĐTĐ tuýp 2 (n =55)

Nội dung Điểm thấp

nhất

Điểm cao

nhất Điểm TB ± SD

Kiến thức về chế độ ăn 3 23 11.2 ± 3.5

Nhận xét: điểm trung bình kiến thức về chế độ ăn của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 là 11.2 ± 3.9.

Bảng 2.11: Đánh giá kiến thức về chế độ ăn của người bệnh ĐTĐ tuýp 2 (n =80)

Phân loại kiến thức Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Kiến thức đạt 31 38,8

Kiến thức chưa đạt 49 61,2

Nhận xét: Người bệnh có kiến thức chưa đạt chiếm tỷ lệ 61,2% và chỉ có 38,8% người bệnh có kiến thức đạt về chế độ ăn của người bệnh đái tháo đường tuýp 2.

Chương 3 BÀN LUẬN

3.1. Thực trạng của vấn đề

3.1.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Khảo sát kiến thức về chế độ ăn của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 điều trị nội trú tại Khoa Nội III Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an kết quả cho thấy tuổi trung bình của người bệnh là 52,3 ± 10,2 tuổi. Trong đó nhóm người bệnh trong độ tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm tỷ lệ 46,25%, thấp nhất ở nhóm 18-30 tuổi là 22,5%.

Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả phù hợp với tác giả Vũ Thị Tuyết Mai (2014) với độ tuổi trung bình 57,9 ± 12,3 tuổi, tác giả Phạm Lan Anh với độ tuổi trung bình của người bệnh là 59,5 ± 2,5 tuổi. Theo các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc ĐTĐ tuýp 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi.

Những thay đổi cấu trúc cơ thể với tình trạng mỡ bụng, giảm vận động ở tuổi trung niên và tuổi già làm giảm năng lượng tiêu hao dễ dẫn đến tích luỹ mỡ bụng gây tình trạng kháng Insulin.

Qua kết quả tại bảng 2.1, có 52,5% là nam giới, nữ 47,5%. Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả của tác giả Nguyễn Trọng Nhân với tỷ lệ nam giới 54,1%, nữ giới 45,9%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi hoàn toàn hợp lý với Tổ chức Y tế Thế giới, số liệu được lấy trung bình từ nhiều quốc gia cho thấy trước 60 tuổi, tần số mắc bệnh ĐTĐ ở nam giới cao hơn ở nữ giới, sau 60 tuổi tần suất mắc bệnh ở nữ giới cao hơn nam giới.

Vềtrình độ học vấn, phần lớn người bệnh có trình độ học vấn ở mức trung học cơ sở 36,25%, vẫn còn có 6,7% người bệnh mù chữ. Trình độ văn hoá là một trong các yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới kiến thức về bệnh cũng như khả năng tiếp thu thông tin của đối tượng tham gia nghên cứu.

Về nghề nghiệp, nhóm công nhân viên chức nhà nước 10,0%, hưu trí là 55,0%;

người làm nông lâm nghiệp/thủy sản tỷ lệ mắc bệnh là 25,0%. Kết quả của chúng tôi tương đồng với các tác giả Nguyễn Trọng Nhân, Vũ Thị Tuyết Mai.

Bảng 2.3 mô tả đặc điểm tiền sử gia đình của đối tượng tham gia nghiên cứu.

Trong đó tỷ lệ đối tượng có tiền sử gia đình (bố, mẹ, anh, chị em ruột) mắc ĐTĐ tuýp 2

Một phần của tài liệu Thực trạng kiến thức về chế độ ăn của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 điều trị nội trú tại khoa nội iii bệnh viện y học cổ truyền bộ công an năm 2022 (Trang 21 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(40 trang)