Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam 94

Một phần của tài liệu Bài giảng luật ngân hàng (Trang 94 - 151)

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

5.1. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN

5.1.2. Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam 94

Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là một hệ thống được Chính phủ thiết lập để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền tại tổ chức tín dụng và góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn của hệ thống tài chính quốc gia.

BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho người gửi tiền. Dịch vụ này mang tính xã hội cao, theo cách phân loại của các nhà kinh tế học, dịch vụ BHTG thuộc loại hàng hoá công không thuần tuý. Cơ sở để gọi dịch vụ BHTG là hàng hoá công không thuần tuý, căn cứ vào tính không loại trừ thụ hưởng một cách tuyệt đối của dịch vụ này.

Xuất phát từ một trong các mục đích của hoạt động BHTG là góp phần đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính quốc gia, người thụ hưởng dịch vụ BHTG là toàn xã hội. Người gửi tiền có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm sẽ được lợi trực tiếp từ chính sách BHTG qua việc họ được tổ chức BHTG chi trả tiền bảo hiểm, khi tổ chức nhận tiền gửi của họ bị đóng cửa và mất khả năng thanh toán. Người đi vay sẽ được hưởng lợi từ dịch vụ BHTG ở chỗ tính ổn định của hệ thống tài chính giúp cho họ sử dụng tiền vay được an toàn và thuận tiện hơn. Có được hệ thống tài chính ổn định sẽ giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển thuận lợi v.v… Chính vì đặc tính không loại trừ thụ hưởng tuyệt đối mà dịch vụ BHTG được xếp vào loại hàng hoá công không thuần tuý.

Trong thực tế, mục đích cụ thể của mỗi hệ thống BHTG có khác nhau nhưng tựu chung đều nhằm đạt được mục tiêu sau:

- Bảo vệ số đông người gửi tiền, đối tượng có tiền gửi ít hạn chế trong tiếp cận thông tin về quản trị, điều hành và tình hình hoạt động của các tổ chức huy động tiền gửi;

94Xem thêm:

- Trung tâm thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học Văn Phòng Quốc hội và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Chuyên đề nghiên cứu chuyên sâu “Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi ViệtNam trong việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và bảo đảm an sinh xã hội”, Hà

Nội tháng 12 năm 2008

http://div.gov.vn/LinkClick.aspx?fileticket=NgqiMwV%2Ba%2Fc%3D&tabid=198&mi d=554;

- Trung tâm thông tin khoa học – Viện Nghiên cứu lập pháp - Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức bảo hiểm tiền gửi hiệu quả, Tài liệu tham khảo, Hà

Nội tháng 11 năm 2009,

http://div.gov.vn/LinkClick.aspx?fileticket=QXQkson5Gng%3d&tabid=198&mid=554

- Góp phần đảm bảo cho hệ thống tài chính quốc gia ổn định và tạo điều kiện cho các giao dịch tài chính có hiệu quả hơn bằng cách phòng, tránh đổ vỡ ngân hàng;

- Góp phần xây dựng một thị trường có tính cạnh tranh và bình đẳng cho các tổ chức tài chính có quy mô và trình độ phát triển khác nhau;

- Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người gửi tiền, tổ chức tài chính, Chính phủ và giảm thiểu gánh nặng tài chính cho người đóng thuế trong trường hợp có tổ chức tín dụng đổ bể.

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (Deposit Insurance of Vietnam - DIV) là tổ chức tài chính Nhà nước được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức hoạt động từ ngày 07/7/2000. Hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi (BHTG) và sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng.

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội (Tháp B Vincom, 191 Bà Triệu; website: http://www.div.gov.vn) và 6 chi nhánh tại các khu vực kinh tế trọng điểm của đất nước.

5.1.2.2. Nội dung pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện nay a. Đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi

Các tổ chức tín dụng và tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân bằng đồng Việt Nam đều phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc. Các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải niêm yết công khai về việc tham gia bảo hiểm tiền gửi tại trụ sở và các địa điểm giao dịch.

b. Đối tượng đượcbảo hiểm

Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, trừ những trường hợp sau đây:

a) Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó;

b) Tiền gửi của người gửi tiền là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó;

c) Tiền gửi dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền

d) Tiền mua giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.

Người gửi tiền không phải đóng phí bảo hiểm mà tổ chức tham gia BHTG phải đóng cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (phí bảo hiểm được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tham gia BHTG). Hàng năm, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam một khoản phí bằng 0,15%/năm tính trên toàn bộ số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

5.1.2.3. Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi

Số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền (một cá nhân hoặc người đại diện theo pháp luật) tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tối đa là 50 (năm mươi) triệu đồng.

Số tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) vượt quá mức tối đa được tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả sẽ được trả cho người gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phù hợp với quy định của pháp luật về giải thể, phá sản.

5.1.2.4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Bảo hiểm tiền gửi Việt Namcó các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Thu phí bảo hiểm tiền gửi của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định;

- Chi trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền trong phạm vi mức bảo hiểm tối đa theo quy định;

- Theo dõi, giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định tại Nghị định của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi và các quy định về an toàn trong hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi;

- Hỗ trợ cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi có nguy cơ mất khả năng chi trả nhưng chưa đến mức phải đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt;

- Tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản;

- Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chủ trương, chính sách về bảo hiểm tiền gửi;

- Tuyên truyền về bảo hiểm tiền gửi đối với công chúng; tổ chức tập huấn, đào tạo và tư vấn về các nghiệp vụ liên quan đến bảo hiểm tiền gửi;

- Hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước nhằm tăng cường năng lực hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Thủ tướng Chính phủ giao.

Theo Nghị quyết số 48/2010/QH12 ngày 19/6/2010 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 của Quốc hội, dự án Luật BHTG đã được đưa vào chương trình chính thức cho ý kiến tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XIII.

5.1.3. Hoạt động vay vốn của tổ chức tín dụng 5.1.3.1. Vay vốn của Ngân hàng trung ương

Việc vay vốn của NHNN được thực hiện theo quy định của Luật NHNN thông qua các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.

5.1.3.2. Vay vốn của tổ chức tín dụng khác

Ngoài việc huy động vốn của dân cư và của các tổ chức kinh tế - xã hội, pháp luật còn cho phép TCTD được vay vốn của các TCTD trong và các TCTD nước ngoài.

Các TCTD cho nhau vay chủ yếu được thực hiện trên thị trường liên ngân hàng.

Việc vay vốn giữa các TCTD nhằm điều hòa, phân phối vốn để tăng cường khả năng thanh toán, đảm bảo an toàn, hiệu quả cho hoạt động của từng TCTD. Quan hệ vay vốn này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng.

Khi TCTD thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định thì có thể vay vốn của các TCTD nước ngoài. Hoạt động vay vốn của TCTD nước ngoài do TCTD thực hiện thuộc diện quản lý nhà nước của Ngân hàng NN Việt Nam.

5.2. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

5.2.1. Khái niệm, đặc điểm

Hoạt động tín dụng của TCTD là việc chuyển nhượng quyền sở hữu vốn của TCTD cho các cá nhân, tổ chức với điều kiện hoàn trả lại một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị được chuyển nhượng sau một thời gian được thỏa thuận trước.

Hoạt động tín dụng của TCTD là hoạt động kinh doanh tiềm ẩn rủi ro cao do tính chất kéo dài của các quan hệ kinh doanh. Chính vì vậy, so với các hoạt động kinh doanh khác thì hoạt động tín dụng của TCTD chịu sự điều chỉnh chi tiết và chặt chẽ của pháp luật.

Khoản 14 Điều 4 Luật TCTD 2010 quy định: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”

Cho vay là một hình thức cấp tín dụng của TCTD cho khách hàng. TCTD được quyền cho vay ngắn hanh, trung hạn và dài hạn thông qua hợp đồng tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn cho sản xuất kinh doanh và đời sống tùy thuộc vào tính chất và khả năng nguồn vốn của TCTD.

Khi cho vay, TCTD phải tuân thủ các nguyên tắc, quy chế pháp lý về cho vay.

Chiết khấu là một hình thức cấp tín dụng của TCTD mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.

Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là TCTD với khách hàng thuê.

Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng của TCTD cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.

Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng của TCTD, theo đó TCTD cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay khách hàng được bảo lãnh nếu đến hạn mà khách hàng được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Trong việc cấp bảo lãnh cho khách hàng(bên được bảo lãnh) hành vi bảo lãnh của TCTD mang đặc tính của hành vi cung ứng vốn có hoàn trả.

5.2.2. Pháp luật về hoạt động cho vay 5.2.2.1. Khái niệm cho vay

Theo nghĩa chung nhất, cho vay là việc một người thỏa thuận để cho người khác được quyền sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định cới điều kiện có hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình đối với người đó. Hoạt động cho vay nói chung bao gồm các yếu tố cấn thành cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể quan hệ cho vay bao giờ cũng có hai chủ thể là người đi vay và người cho vay.

Thứ hai, hình thức pháp lý của việc cho vay là hợp đồng vay tài sản95.

Thứ ba, sự kiện cho vay phát sinh bởi hai hành vi căn bản là hành vi ứng trước và hành vi hoàn trả một só tiền hay tài sản nhất định là các vật cùng loại96.

Thứ tƣ, đối tượng của hợp đồng cho vay là tài sản97.

Thứ năm, việc cho vay bao giờ cũng dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho vay đối với người đi vay.

Ngoài những đặc điểm trên, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng còn có những đặc trưng riêng. Cụ thể là:

Một là, việc cho vay của TCTD đối với khách hàng là hoạt động kinh doanh, là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho TCTD.

Hai là, việc cho vay của TCTD đối với khách hàng chỉ được thực hiện khi được NHNN cho phép.

Ba là, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng phải tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn cho hoạt động của TCTD.

95 Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 471 BLDS 2005)

96Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường. Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau (Khoản 1 Điều 179 BLDS 2005)

97Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (Điều 163 BLDS 2005).

Tùy thuộc vào loại tài sản mà có tên hợp đồng tương ứng.

Bốn là, việc cho vay của TCTD đối với khách hàng dựa trên hợp đồng tín dụng bằng văn bản.

Năm là, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng chịu sự điều chỉnh của Luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Sáu là, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng mang tính rủi ro cao, không chỉ đôi với TCTD mà còn có ảnh hưởng đến hệ thống TCTD.

Bảy là, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng tuân thủ quy trình chặt chẽ.

Tám là, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của NHNN để tránh làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách tiền tệ của Chính phủ.

5.2.2.2. Phân loại98

Thứ nhất, căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn vay, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng bao gồm:

- Cho vay ngắn hạn. Đây là hình thức cho vay của TCTD đối với khách hàng, trong đó thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là đến 1 năm (12 tháng).

- Cho vay trung và dài hạn. Đây là hình thức cho vay của TCTD đối với khách hàng, trong đó thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là trên 1 năm (trên 12 tháng).

Thứ hai, căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng bao gồm:

- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản. Đây là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ củabên đi vay được bảo đảm bằng tài sản của bên đi vay hoặc của người thứ ba.

- Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Đây là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ của bên đi vay không được bảo đảm bằng tài sản của bên đi vay hoặc của người thứ ba.

98 Xem thêm, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2010, tr.129 – tr.134

Thứ ba, căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng bao gồm:

- Cho vay kinh doanh.

- Cho vay tiêu dùng.

Thứ tƣ, căn cứ vào phương thức cho vay, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng bao gồm:

- Cho vay từng lần là hình thức mà mỗi lần vay, người đi vay phải thực hiện thủ tục vay vốn và ký hợp đồng tín dụng theo quy định.

- Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức mà TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận hạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định đồng thời ký kết hợp đồng tín dụng cho cả thời hạn duy trì hạn mức tín dụng đó.

- Cho vay theo dự án đầu tư.

- Cho vay hợp vốn.

- Cho vay trả góp…

5.2.2.3. Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

a. Chủ thể tham giaquan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng

* Bên cho vay

Một TCTD muốn trở thành chủ thể cho vay phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:

- Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp;

- Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y;

- Có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh hợp pháp;

- Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng với khách hàng.

* Bên đi vay

Các doanh nghiệp, hợp tác xã, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác muốn tham gia quan hệ vay vốn phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật và TCTD quy định.

Thứ nhất, những điều kiện chung, bao gồm:

Một phần của tài liệu Bài giảng luật ngân hàng (Trang 94 - 151)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(171 trang)