5. Kết cấu luận văn
1.2 Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và
1.3.1 Báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính cung cấp cho nhà đầu tư rất nhiều thông tin hữu ích. Khi phân tích và xem xét báo cáo tài chính sẽ đem lại các câu trả lời cho các câu hỏi chẳng hạn như: quy mô công ty lớn như thế nào? Công ty có đang tăng trưởng không? Công ty đang làm ra tiền hay đang hao hụt tiền? Công ty có tỷ lệ tài sản lưu động so với tài sản cố định như thế nào? Công ty chủ yếu đang vay ngắn hạn hay vay dài hạn? Công ty có đang phát hành thêm trái phiếu hay cổ phiếu trong năm vừa qua? Công ty đã thực hiện các khoản chi phí đầu tư lớn trong năm vừa qua? Công ty đã hiện đang có nhiều tiền mặt hay không hay đang thiếu tiền. Có các báo cáo tài chính chủ yếu như sau:
▪ Bảng cânđối kế toán: là bảng báo cáo tài chính được lập vào một thời điểm nhất định trong năm theo hai cách phân loại vốn và nguồn hình thành vốn cân đối nhau. Nó bao gồm các loại tài sản có, tài sản nợ và vốn cổ phần của một doanh nghiệp. Nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhiều đối
tượng có quan hệ sở hữu, quản lý kinh tế tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp.
▪ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhlà báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh doanh thu và chi phí của công ty trong một kỳ kế toán, thường là một năm tài chính. Số liệu trên báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động và kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của một doanh nghiệp.
▪ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để phản ánh việc hình thành và sử dụng tiền phát sinh trong kỳ, gồm 3 phần chính: lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giải thích xuất xứ của lượng tiền mặt trong một giai đoạn và lượng tiền này được chi vào đâu.
Thông qua báo cáo này, chủ sở hữu và các nhà đầu tư có thể đánh giá việc thu và chi tiền mặt trong năm có hợp lý hay không.
▪ Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp không tách rời với báo cáo tài chính của doanh nghiệp được sử dụng để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác chưa trình bày rõ ràng, chi tiết và cụ thể được.
Ngoài ra, đối với các công ty trên sàn chứng khoán còn đòi hỏi phải cung cấp cho các nhà đầu tưBáo cáo thường niên. Báo cáo thường niên là báo cáo quan trọng mà công ty cung cấp thông tin cho các cổ đông. Báo cáo này gồm hai phần. Phần thứ nhất là phần diễn giải, thông thường là của ban giám đốc công ty, mô tả kết quả hoạt động của công ty trong năm qua và bàn luận về những xu hướng phát triển mới có tác động lên hoạt động tương lai của công ty.
Phần thứ hai là phần báo cáo, sẽ cung cấp bốn loại báo cáo cơ bản bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính.
1.3.2 Các chỉ tiêu tài chính thườngđược các nhàđầu tưsửdụng khi phân tích
Các nhà đầu tư thường sử dụng báo cáo tài chính để phân tích tình hình doanh nghiệp bằng việc đưa ra các chỉ tiêu phân tích nhằm dự báo được thu nhập, cổ tức và giá cổ phiếu, tìm ra hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, rủi ro và triển vọng tăng trưởng.
Phân tích báo cáo tài chính bao gồm: (a) so sánh tình hình hoạt động của công ty với các công ty khác; và (b) đánh giá xu hướng và vị trí của công ty theo thời gian từ đó mới đưa ra các quyết định đầu tư.
Theo nghiên cứu của Võ Thị Ánh Hồng, 2008 một số các chỉ tiêu tài chính được các nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất như sau:
Bảng 1.1 Các chỉtiêu tài chính được nhàđầu tưquan tâm nhiều nhất
STT Chỉtiêu Sốngười trảlời
1 Thu nhập trên mỗi cổ phiếu thường (EPS) 71
2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 68
3 Chỉ số giá thị trường so với giá trên mỗi cổ phiếu (P/E) 65
4 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản 64
5 Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu 58
6 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 56
Nguồn: Võ Thị Ánh Hồng, 2008 [06. P45 ]
Thu nhập trên mỗi cổphiếu thường EPS – Earning per share (Lãi cơ bản trên cổ phiếu) = Tổng lãi (Lợi nhuận) dành cho cổ đông thường/Số lượng cổ phần thường đang lưu hành trên thị trường. Theo nghiên cứu Graham, Harvey và Rajgopal (2005) Payout Policy in the 21st century, Journal of Financial Economics
77. 483-528, các Giám đốc tài chính tin rằng các nhà đầu tư quan tâm nhiều đến
chỉ tiêu EPS hơn là dòng tiền. Vấn đề trên xuất phát từ các nguyên nhân sau:
(1) các nhà đầu tư hàng ngày nhận được rất nhiều thông tin (từ báo cáo tài chính cũng như từ các nguồn khác) trong khi khả năng xử lý thì có hạn. Nên, các nhà đầu tư cần một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp một cách đơn giản, dễ hiểu và dễ so sánh; trong đó, EPS được coi là đáp ứng tốt các yêu cầu này. Lý do thứ hai, chỉ tiêu EPS là chỉ tiêu được sử dụng một cách phổ biến nhất và xuất hiện với tần suất nhiều nhất trên các phương tiện thông tin đại chúng đến mức mà người ta coi nó là quan trọng mà chẳng cần hỏi lý do. Cuối cùng, giống như các nhà đầu tư các chuyên gia phân tích tài chính, các ngân hàng đầu tư cũng muốn có một chỉ tiêu tổng hợp thuận tiện cho việc phân tích, đánh giá, dự báo tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, và họ cũng chọn EPS.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là thu nhập thuần của các cổ đông nắm giữ chia cho tổng vốn chủ sở hữu của công ty. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào.
Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Nếu ROE cao thì giá cổ phiếu cũng có xu hướng tăng cao.
Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau (1) ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng; (2) ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì chúng ta phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa, và đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không.
Tỷ số giá thị trường so với giá trên mỗi cổ phiếu hay Chỉ số giá thu nhập (P/E) Chỉ số giá thu nhập=Giá trị thị trường mỗi cổ phần/ Thu nhập trên mỗi cổ phần
P/E là mức giá mà nhà đầu tư sẵn lòng bỏ ra để có một đồng thu nhập của cổ phiếu đó hay số năm hoàn vốn nếu EPS không đổi. Tuy nhiên P/E thường thể hiện kỳ vọng của thị trường về tăng trưởng của cổ phiếu đó hơn là kết quả kinh doanh đã qua.
Tỷ số này thường được nhà đầu tư sử dụng phổ biến nhưng chỉ là con số tham khảo cho nhà đầu tư sau khi đối chiếu với các công ty cùng ngành nghề và theo dõi xu hướng dài hạn dựa trên con số P/E trong một thời gian dài.
Tỷsuất lợi nhuận trên tổng tài sản(ROA)= Lãi ròng/ Tổng tài sản. Chỉ tiêu này cho các nhà đầu tư thấy được 1 đồng tài sản mà nhà đầu tư bỏ ra sẽ thu được về bao nhiêu đồng lãi ròng.
Tỷsốnợtrên vốn chủsởhữu
Tổng nợ bao gồm tất cả khoản nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Các nhà đầu tư thường dựa vào đây để đánh giá rủi ro tài chính của một doanh nghiệp. Tỷ số này càng cao sẽ làm nguy cơ vỡ nợ cao tuy nhiên nếu các công ty làm ăn hiệu quả thì việc duy trì một tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu có thể làm tăng thu nhập dự tính cho các nhà đầu tư.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu= Lãi ròng/ Doanh thu. Chỉ tiêu này sẽ cho nhà đầu tư thấy được lãi ròng trên mỗi đồng doanh thu
Một số chỉ tiêu khác cũng được xem là quan trọng khi phân tích tỷ số và đạt được câu trả lời tương đối cao theo nghiên cứu của Võ Thị Ánh Hồng, 2008 đó là: Tỷ số thanh toán nợ ngắn hạn và Tỷ số khả năng thanh toán nhanh. Vì các chỉ tiêu này sẽ trả lời cho câu hỏi doanh nghiệp có khả năng chi trả các khoản nợ chi trả khi đến hạn hay không, nếu doanh nghiệp không có khả năng chi trả đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đang có nguy cơ trên bờ vực phá sản.
Tỷ số thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn, tỷ số này đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty bằng cách bán tài sản lưu động (tài sản ngắn hạn có thời gian đáo hạn nhỏ hơn một năm) để thu tiền mặt để
thanh toán các khoản nợ ngắn hạn (nợ ngắn hạn có thời gian đáo hạn nhỏ hơn một năm), tỷ số này cho nhà đầu tư thấy khả năng công ty có dễ dẫn tới việc bị phá sản hay không.
Tỷ số khả năng thanh toán nhanh = (tiền + khoản phải thu)/nợ ngắn hạn đo lường khả năng thanh toán tốt hơn cho những doanh nghiệp có hàng tồn khi chưa thể chuyển ngay thành tiền. Hàng tồn kho thông thường có tính thanh toán kém nhất trong các tài sản lưu động của công ty. Vì thế chúng là tài sản có khả năng bị thiệt hại giá trị trong trường hợp thanh lý. Do vậy, thước đo khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn không cần đến việc bán hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng.
Tóm tắt chương 1
Các nhà đầu tư thường dựa vào các thông tin kế toán để đưa ra các quyết định đầu tư thông qua phân tích các các chỉ tiêu tài chính để đánh giá tình hình của doanh nghiệp. Phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư các dữ liệu đầy đủ có thể đánh giá tình hình doanh nghiệp hiện tại cũng như cái nhìn tổng quan về tương lai.
Tuy nhiên, việc doanh nghiệp áp dụng các phương pháp kế toán khác nhau cũng có thể dẫn đến các số liệu để tính toán các chỉ tiêu phân tích khác nhau. Như phân tích trên, hiện nay chuẩn mực kế toán Việt Nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế có những sự khác biệt có thể ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư. Vì vậy, nghiên cứu sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế giúp các nhà đầu tư có tính toán đúng khi ra quyết định đầu tư là điều cần thiết.
CHƯƠNG 2.
PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT CỦA MỘT SỐ KHOẢN MỤC TRONG HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾTOÁN VIỆT NAM SO VỚI HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾTOÁN QUỐC TẾCÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾTĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ.
2.1 Sựkhác biệt trong phương phápđánh giá
Có thể nhận thấy rằng, điểm khác biệt trong phương pháp đánh giá là Việt Nam sử dụng phương pháp đo lường giá trị tài sản bằng phương pháp “giá gốc” hay “giá lịch sử” (historical/ original cost) hơn là sử dụng phương pháp
“giá trị hợp lý” (fair value). Vì vậy, giá trị của tài sản trong ghi nhận tại chuẩn mực kế toán quốc tế phản ánh thực hơn so với giá trị tài sản được ghi nhận trong chuẩn mực kế toán Việt Nam. Cụ thể được trình bày trong các trường hợp sau:
2.1.1 Kếtoán hàng tồn kho
Chuẩn mực kế toán quốc tế đã không còn sử dụng tính giá hàng tồn kho LIFO (nhập sau xuất trước – last in first out). Tuy nhiên, chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn cho sử dụng phương pháp này trong hạch toán kế toán.
Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO) áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất tại thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá vốn hàng bán được tính theo giá lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO) áp dụng trên giả định là hàng tồn kho được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị vốn hàng bán được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau
cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho.
Việc tiếp tục cho sử dụng phương pháp này có thể dẫn đến sự khác biệt trong giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Cụ thể, nếu sử dụng phương pháp FIFO trong điều kiện có lạm pháp sẽ dẫn đến giá trị hàng tồn kho trong bảng cân đối kế toán sẽ lớn hơn so với khi sử dụng phương pháp LIFO; giá vốn hàng bán sẽ thấp hơn so với sử dụng phương pháp LIFO; lợi nhuận báo cáo sẽ cao hơn so với sử dụng phương pháp LIFO.
2.1.2 Kếtoán tài sản cố định hữu hình
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 03, phương pháp đánh giá lại giá trị tài sản cố định hữu hình chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa tại Việt Nam. Ngoài ra, giá trị tài sản cố định hữu hình sau khi ghi nhận ban đầu chỉ cho phép sử dụng phương pháp giá gốc và không được phép đánh giá lại. Nên, giá trị tài sản cố định theo sổ sách tại một thời điểm nào đó có thể không phản ánh chính xác giá trị của tài sản cố định dẫn đến sự so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau có thể không phù hợp. Theo quy định hiện hành, ghi nhận tài sản cố định tại Việt Nam dựa vào giá trị tài sản cụ thể là 10.000.000 đồng nhằm giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong ghi nhận tài sản cố định của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại một số doanh nghiệp do đặc thù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việc ấn định giá trị tài sản có thể gây khó khăn, chẳng hạn như một doanh nghiệp sản xuất máy bay thì các phụ tùng (bù lon, đinh tán) kèm theo giá có thể lên đến vài ngàn đô cao hơn gấp nhiều lần so với giá trị quy định.
Theo chuẩn mực kếtoán quốc tếIAS 16, việc xác định giá trị tài sản cố định sau ghi nhận ban đầu có hai phương pháp là phương pháp giá gốc hoặc phương pháp đánh giá lại. Giá đánh giá lại phải là giá trị hợp lý tại ngày đánh giá lại trừ đi khấu hao lũy kế và các khoản lỗ do giá trị tài sản bị tổn thất. Khi việc đánh giá lại làm tăng giá trị tài sản thì số chênh lệch giá này cần được ghi tăng khoản mục thặng dư đánh giá lại (phần nguồn vốn), trừ trường hợp tài sản này
trước đó đã được đánh giá giảm mà số chênh lệch giảm đã được ghi vào chi phí thì số đánh giá tăng lần này cần được ghi nhận là thu nhập. Ngược lại, khi đánh giá lại làm giảm giá trị tài sản thì số chênh lệch giá vượt quá số có thể ghi giảm vào mục thặng dư đánh giá lại (là số hiện đang ghi nhận là thặng dư đánh giá lại của cùng tài sản) cần được ghi nhận là chi phí.
Việc ghi nhận thu nhập và chi phí phát sinh sau khi tài sản được đánh giá lại gây ảnh hưởng đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, làm cho thu nhập tăng lên hoặc giảm xuống ảnh hưởng đến đánh giá của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp.
Ví dụ, vì giá trị quyền sử dụng đất thường tăng giá theo thời gian, nên giá trị hiện tại của giá trị quyền sử dụng đất có thể cao hơn rất nhiều lần so với giá trị ghi nhận trên sổ sách. Nếu không đánh giá lại, giá trị tài sản trên sổ sách có thể nhỏ hơn nhiều so với giá trị thực của doanh nghiệp. Đồng thời, thu nhập mang lại do công tác đánh giá sẽ làm báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hơn.
Qua khảo sát tại doanh nghiệp A hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bao bì có vốn đầu tư nước ngoài đã lập báo cáo tài chính theo cả hai chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán Quốc tế, trong đó tài sản cố định được đánh giá lại làm tăng nguyên giá và thời gian khấu hao tài sản cố định. Cụ thể, giá trị tài sản cố định vào ngày 30/09/2008 có sự chênh lệch tăng từ 54.065.350.040 đồng (theo VAS) lên đến 88.111.739.002 đồng (theo IAS) cộng thêm các tác động của việc hạch toán các chi phí và do ảnh hưởng của chênh lệch tỷ giá làm cho tổng lợi nhuận thuần lũy kế có sự chênh lệch đáng kể (theo VAS đang lỗ 28.419.149.291 đồng trở thành lỗ 52.464.856.500 đồng theo IAS).
(Nguồn – Phụ lục 5).
2.1.3 Kếtoán các khoảnđầu tư
Kếtoán các khoảnđầu tưvào công ty liên kết
Công ty liên kết là công ty trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể nhưng không phải là công ty con hoặc công ty liên doanh của nhà đầu tư.