Xác định các ph ương thức giải quyết tranh chấp thương mại : thương lượng , hòa giải trọng tài thương mại , tòa án

Một phần của tài liệu Luật Thương Mại 2.Docx (Trang 42 - 52)

Khi các quan hệ kinh doanh càng phát triển, những tranh chấp xảy ra là điều không tránh khỏi những lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp nào vừa đảm bảo có lợi cho thương nhân vừa duy trì được mối quan hệ làm ăn là việc mà các thương nhân cần cân nhắc.

Hồ sơ đăng ký gia nhập đoàn luật sư thành phố Hà Nội  / Dịch vụ luật sư bào chữa, tranh tụng tại tòa án / Luật sư giải quyết tranh chấp

Pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh sau: Thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Theo đó, khi xảy ra tranh chấp kinh doanh các bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực

Độc Quyền Tại ==========> Photo LỘC HẢI

tiếp thương lượng với nhau. Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phương thức hòa giải, trọng tài hoặc tòa án.

Việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên. Cơ quan nhà nước và trọng tài thương mại chỉ can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp.

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh, thương mại ngày càng đa dạng và không ngừng phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, đầu tư… Vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại phải được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản chất và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của một phương thức để có quyết định hợp lý.

Thương lượng

Là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại được giải quyết bằng phương thức này. Nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên.

Hòa giải

Là việc các bên tiến hành thương lượng giải quyết tranh chấp với sự hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên. Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải, quyết định cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp không phải của trung gian hòa giải

Độc Quyền Tại ==========> Photo LỘC HẢI

Hình thức giải quyết này có nhiều ưu điểm: hủ tục hòa giải được tiến hành nhanh gọn, chi phí thấp, các bên có quyền tự định đoạt, lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải cũng như địa điểm tiến hành hòa giải. Họ không bị gò bó về mặt thời gian như trong thủ tục tố tụng tại tòa án. Hòa giải mang tính thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên. Hòa giải là mong muốn của các bên dàn xếp vụ việc sao cho không có bên nào bị thua cuộc, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như quá trình kiện tụng tại tòa án.

Hình thức giải quyết này đặc biệt hiệu quả khi giải quyết những tranh chấp kinh doanh, thương mại mang tính chất kỹ thuật (xây dựng, tài chính … ). Vì rằng, các bên trong vụ việc tranh chấp hoàn toàn có quyền chủ động trong việc tìm kiếm một hòa giải viên có đủ hiểu biết để tham gia giải quyết tranh chấp.

Nhưng trong thực tiễn kiện tụng tại tòa thì các bên không có quyền lựa chọn cán bộ giải quyết trừ một số trường hợp phải thay đổi hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật. Một điều quan trọng khác mà các nhà kinh doanh cũng rất quan tâm là khi giải quyết bằng con đường này các bên kiểm soát được các tài liệu chứng cứ có liên quan (những bí mật kinh doanh) trong khi giải quyết tại tòa án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai.

Bên cạnh những ưa điểm trên, giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định: Việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa thuận hòa giải không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết của trọng tài hay của tòa án. Thủ tục này ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với nhau.

Độc Quyền Tại ==========> Photo LỘC HẢI

Trọng tài

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường và ngày càng được các nhà kinh doanh ưa chuộng. Đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuản tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành.

Ưu điểm của phương thức giải quyết tranh chấp này là có tính linh hoạt, tạo quyền chủ động cho các bên; tính nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài và đảm bảo bí mật. Trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc án, quyết định trọng tài không được công bố công khai, rộng rãi. Theo nguyên tắc này họ có thể giữ được bí quyết kinh doanh cũng như danh dự, uy tín của mình. Giải quyết trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình. Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm, đây là ưu thế vượt trội so với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hòa giải. Sau khi trọng tài đưa ra phán quyết thì các bên không có quyền kháng cáo trước bất kỳ một tổ chức hay tòa án nào.

Nhược điểm: Giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí tương đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao. Việc thi hành quyết định trọng tài không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như việc thi hành bản án, quyết định của tòa án.

Tòa án

Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định, ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa án là: Do là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế cao. Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế, do đó khi đã đưa ra

Độc Quyền Tại ==========> Photo LỘC HẢI

tòa án thì quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án.

Tuy nhiên, việc lựa chọn phương thức này cũng có những nhược điểm nhất định vì thủ tục tại tòa án thiếu linh hoạt do đã được pháp luật quy định trước đó.

Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai của tòa án tuy là nguyên tắc được xem là tiến bộ, mang tính răn đe nhưng đôi khi lại là cản trở đối với doanh nhân khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ.

Chính vì những nhược điểm này mà hình thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án ít khi được các thương nhân lựa chọn và các thương nhân thường xem đây là phương thức lựa chọn cuối cùng của mình khi các phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài không mang lại hiệu quả.

13. Xác định thỏa thuận trọng tài, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, xác định các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

- Thỏa thuận trọng tài thương mại

 Theo quy định tại khoản 2 Điều 3  Luật trọng tài thương mại năm 2010 thì: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”. Như vậy có thể hiểu khái quát thỏa thuận trọng tài thương mại là một thỏa thuận bằng văn bản, theo đó các bên kí kết nhất trí đưa tất cả hoặc một số tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh từ giao dịch thương mại có khả năng được áp dụng trọng tài ra giải quyết bằng con đường trọng tài.

 Bản chất của trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa thuận của các bên tranh chấp. Khác với Tòa án, Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên tranh chấp có thỏa thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, điều này đồng nghĩa với việc thỏa thuận trọng tài là điều kiện tiên quyết để tiến hành tố tụng bằng trọng tài.

Với những quy định của pháp luật như trên thì thỏa thuận trọng tài thương mại có những đặc điểm cụ thể sau:

Độc Quyền Tại ==========> Photo LỘC HẢI

Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ý chí của các bên có liên quan trong việc giải quyết tranh chấp. Khi có tranh chấp xảy ra các bên thống nhất ý chí với nhau về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Thứ hai, thường có hai cách để thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài:

 + Một là, các bên dự đoán trước và thỏa thuận ngay từ khi bắt đầu quan hệ thương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh trong tương lai. Sự thỏa thuận này thường được thể hiện bằng một điều khoản trọng tài trong hợp đồng xác lập quan hệ thương mại giữa hai bên

 + Hai là, sau khi tranh chấp phát sinh các bên mới thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài. Thỏa thuận này thường dưới hình thức một văn bản thỏa thuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính, do đó thỏa thuận này thường được biên soạn đầy đủ, có tính khả thi cao.

Thứ ba, trong hầu hết các trường hợp thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới hình thức văn bản. “Điều này đảm bảo cho thỏa thuận trọng tài có giá trị như một chứng cứ xác định ý chí của các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản, tuy nhiên điều khoản trọng tài cũng có thể bằng miệng nhưng trường hợp này rất hiếm”

Thứ tư, một thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lý khi nó đáp ứng yêu cầu của pháp luật về nội dung. Trong đó những yêu cầu về mặt nội dung phải đảm bảo về tính rõ ràng, sự chính xác của thỏa thuận trọng tài, theo đó có thể dễ dàng xác định được thẩm quyền xét xử của một hội đồng trọng tài cụ thể.

Thứ năm, thỏa thuận trọng tài có hiệu lực độc lập với hợp đồng, trong cả trường hợp thỏa thuận trọng tài là một điều khoản của hợp đồng. Dù thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa thuận trọng tài thực chất là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá trị độc lập

Độc Quyền Tại ==========> Photo LỘC HẢI

- hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài độc lập với hiệu lực của hợp đồng chính:

        Điều 19 LTTTM 2010 quy định về tính độc lập của thỏa thuận trọng tài: “Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài”. “Việc quy định thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng bởi đây là hai loại thỏa thuận có đối tượng pháp lý hoàn toàn khác nhau, điều khoản trọng tài xác định thủ tục tố tụng sẽ được áp dụng trong trường hợp có tranh chấp phát sinh giữa các bên, còn hợp đồng chính quy định quyền và nghĩa vụ của các bên. Nói cách khác, việc vô hiệu của hợp đồng chính không thể ảnh hưởng đến tiền trình tố tụng bằng trọng tài. Vì vậy, việc xác định điều khoản trọng tài độc lập với hợp đồng chính có ý nghĩa quan trọng, bởi đây là cơ sở duy nhất để thành lập Hội đồng trọng tài thể hiện đúng ý chí của các bên về việc lựa chọn trọng tài giải quyết vụ tranh chấp

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đối với các chủ thể có liên quan:

    Thứ nhất, đối với cơ quan trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp: Điều 43 LTTTM 2010 đã thể hiện nguyên tắc thẩm quyền của thẩm quyền  cho phép hội đồng trọng tài thực hiện thẩm quyền của mình ngay cả đối với sự tồn tại hoặc hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Mục đích của nguyên tắc này chính là đảm bảo các tranh chấp đều được xem xét và giải quyết. Theo đó, thẩm quyền của hội đồng trọng tài vẫn giữ nguyên mặc dù hợp đồng vô hiệu.

Trong trường hợp hội đồng trọng tài cho rằng hợp đồng mà trong đó có thỏa thuận trọng tài là không tồn tại hoặc vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài vẫn tồn tại và có hiệu lực. Vì vậy hội đồng trọng tài vẫn có thẩm quyền quyết định về nghĩa vụ tương ứng của các bên và giải quyết khiếu kiện yêu cầu của họ, mặc dù hợp đồng có thể không tồn tại hoặc vô hiệu.

     Thứ hai, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài đối với tòa án: Điều 6 LTTTM 2010 đã quy định về việc Tòa án từ chối thụ lý trong trường hợp có

Độc Quyền Tại ==========> Photo LỘC HẢI

thỏa thuận trọng tài: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”. Quy định này thể hiện rõ ràng thái độ của nhà nước đối với thỏa thuận trọng tài và là một đảm bảo mạnh mẽ từ phía nhà nước để thỏa thuận trọng tài được các bên tôn trọng. Việc Tòa án không được thụ lý vụ kiện tranh chấp khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài là để khẳng định thẩm quyền của trọng tài, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được”

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài khi có sự thay đổi của một bên:

         Sau khi thỏa thuận trọng tài được xác lập, có thể có những thay đổi của một bên, trong trường hợp này tại Điều 5 LTTTM 2010 quy định thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực, cụ thể:

 Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

 Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Độc Quyền Tại ==========> Photo LỘC HẢI

14. Xác định thẩm quyền của tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại theo lãnh thổ , theo cấp.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại. Quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Tóm tắt câu hỏi:

công ty A và công ty đối tác của chúng tôi là công ty B: Từ năm 2011, công ty A đã làm hợp đồng và thi công công trình của công ty B. Công trình đã xong và được nghiệm thu hoàn thiện vào năm 2012, nhưng từ lúc năm 2012 đến bây giờ năm 2017, công ty A chỉ nhận được 40% tổng số tiền công trình mà công ty B phải thanh toán. Sau nhiều lần công ty A đến làm việc với lãnh đạo công ty B đều không được gặp lãnh đạo của công ty để giải quyết và có gửi giấy đề nghị thanh toán nhưng đều không nhận lại được phải hồi từ phía công ty B.

Bây giờ công ty A muốn khởi kiện công ty B thì cần làm những công việc gì.

Phía chúng tôi "Công ty A" đã có giấy xác nhận của lãnh đạo cũ của công ty B về khoản nợ 60% giá trị hợp đồng, có hóa đơn đỏ bán hàng về việc đã nhận số tiền của công ty B. Công ty B là công ty của nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng quân đội. Câu hỏi:

1. Chúng tôi sẽ khởi kiện công ty B ở tòa án cấp nào?

2. Khi chúng tôi chỉ có giấy xác nhận công nợ rằng công ty B nợ chúng tôi mà thiếu đi Hợp đồng bản gốc, liệu có đòi được số tiền mất không?

3. Khi khởi kiện chúng tôi sẽ gặp những bất lợi gì?

Luật sư tư vấn:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

2. Giải quyết vấn đề:

Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại vì mục đích lợi nhuận thuộc thẩm quyền giải

Một phần của tài liệu Luật Thương Mại 2.Docx (Trang 42 - 52)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(63 trang)
w