Mùa đông Nguyên văn
Huyền minh bá lịnh mẩn quan san, Hồng dù nam hoàn I
Nhan di nam hoàn ẽ
Sóc phong lẫm liệt tuyết man man, Biến ở lan-can
Quyện ở lan-can Ì
Ủng lô thượng nhỉ giác thanh nhan, Toa cham ning an!
Ngoa cham nang an!
Khởi quan Cô-dịch lạc trần gian, Hoa bit tri han!
Nhân bất tri hàn !
Dich nguyén diéu
Khi đen mù mịt tỏa non sông, Hồng về nam xong l
Nhạn về nam xong
Gió bắc căm căm tuyết mịt mùng, Tựa triện ngồi trông l
Tựa triện đứng trông }
Sưởi lò. mặt vẫn rá như đồng, Ngồi chẳng yên lòng !
N&m chang yén lòng !
Day xem phong canh luc gidi déng, Hoa quên lạnh lùng l
Người quờn lạnh lựng ù
(Bốn bài trên này dịch văn của bà Chủa Liễu).
Trên này kể quả một vài thê, chớ c]ng còn nhiều điệu nữa, không kề hết được. Còn như lối ca ngâm khúc điệu riêng của ta thì lại khác với của Tàu nay kề qua lề lối
các thề và trích lấy mỗi thể một vài đoạn hoặc một vài bài văn cô đăng ra sau này.
ĐIỆU LỤC BÁT
Điệu này cứ câu trên 6 chữ, câu dưới 8 chữ, mà vần chữ thứ 6 câu dưới, phải tiếp vần với chữ cuối câu trên, Bốn câu 3 vần thành một đoạn nhỏ. Muốn làm bao nhiêu đoạn cũng được, tức như lối chuyện Kiều, chuyện Nhị- Độ-Mai v. v.
Trích lục uài câu Kiều Mit mu dim cat doi cay,
Tiếng gà điểm nguyệt dấu giầy cầu sương.
Canh khuya thân gái, dặm trường, Phần e đường sả, phần thương đẩi dầu.
ĐIỆU SONG THẤT LỤC BẤT
Lỗi này cử hai câu đầu mỗi câu 7 chữ, mà cử chữ cuối câu đầu phải dùng tiếng trắc mà hạ xuống tiếng bằng;
.ceân thứ ba 6 chữ, tiếp theo vần bằng, câu thử tư 8 chữ dại tiếp theo như lối lực bát. Lối này thì 4 câu phải 1 vần.
nhưng cỏ khi vần câu đầu không tiếp cũng được, tức .như lối chuyện Cung-oán, chuyện Chinh-phụ-ngâm v, v,
Trích lục oài câu Cung-oán Trải vách quế gio vang hiu hal, Mảnh vũ-y lạnh ngắt như đồng.
Oán chỉ những khách tiên phòng, Mà xui phận bạc nằm trong mả đào.
DIEU BIEN THE LUC BAT
Lối này cũng dùng trên sáu dưới tám, nhưng thỉnh thoảng chữ thứ tư câu dưới, tiếp vần với chữ cuối câu trên, tức như lối chuyện Quan-âm, chuyện Phạm-công v.v.
Trích lục mấu câu Quan-âm Này sự con vua thủy thần, Thái-tử đi tuần đội lốt lý ngư.
Đi nhầm mắc lưới vần vơ,
Chẳng chậm một giờ dao thớt phải sa.
ĐIỀU PHONG DAO
Phong dao là những câu ví von ở nơi thén da, hoặc điệu hảt xầm, hoặc khúc ru em, lời lề tuy thiền cận mà thực tả ra chân tính chân tình. Lối này cũng theo lối lục bát, nhưng thỉnh thoảng đệm thêm một vài tiếng, cũng thành một giọng riêng.
Trích lục oài câu ngạn ca 4° Đêm đông tràng,
Em nghe con vượn cầm canh,
Nghe chim khuyên tô, nghe anh khuyên nàng.
Giầu giữa làng trái duyên khôn ép.
Khó nước người pbải kiếp tìm đi.
Tiền trăm bạc chục kề chi.
2° Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân, nay anh học
đường gần, mai anh học đường xa.
Lay anh tir thaa mười ba,
Đến năm mười tắm đã hòa năm con.
Ra đường thiếp hãy còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
3° Con sông thương nước chảy đôi ba dòng,
Đèn khêu đôi ngọn anh trông ngọn nào.
Muốn tắm mát lên ngọn sông Đào, Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh ; Đôi tay vít lấy đôi cành,
Quả chín thì hải quả xanh thì đừng, Ba bốn năm ăn ở trong rừng,
Chim kêu vượn hót nửa mừng nửa lo, Trót sa chân nhỡ bước xuống đò,
Gieo mình xuống xập nửa lo nửa phiền.
ĐIỆU XƯỚNG CA
Điệu xướng ca là bài hát của ả đảo hay hát. Lối này đại đề câu mới mở hoặc 4, 5 chữ, hoặc 7 chit ha Uéng trắc rồi tiếp một câu 8 chữ mà đưa xuống vần bằng.
Kế đến câu thứ ba chữ cuối cùng phải tiếp vần với chữ cuối cùng câu thứ hai ; mà chữ thứ 5 hoặc thứ 6 câu thứ
tư lại tiếp vần câu thứ ba mà đưa xuống vần trắc. Kế đến hai câu thơ hoặc 5 chữ hoặc 7 chữ, hay là một vài câu đi lưu thủy rồi đưa xuống một câu độ 7, 8 chữ, cuối cùng thả một câu 5, 6 chữ lửng lơ.
Trích lục uài bài hát cô
I.— Chan đời
Ba van sau nghìn ngày là mấy,
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười ! Thôi công đâu mà rước lấy sự đời, Tiêu khiền một vài chuông lếu lảo.
Đoạn tống nhất sinh duụ hữu tửu, Trầm tư bách kế bất như nhàn.
Bóng thiều quang thấp thoáng dưới nam san, Ngoảnh mặt lại, cửu-hoàn coi cũng nhỏ.
Khoảng trời đất cồ kim, kim cô,
Mảnh hình hài không cỏ, có không.
Lọ là thiên tử vạn chung Ì
Il Gặp tình-nhân Tài tử với ai nhân là nợ sẵn, Giải cấu nan là chữ làm sao 9 Trải xưa nay chừng đã xiết bao,
Kia tan hợp, nọ khứ lu dau dam chic!
Giai nhân khứ khứ hành hành sắc.
Tài tử chiêu chiêu mộ mộ tình,
Uẫy kìa ai như mây tuôn, như nước châầy, như giớ mát, như trăng thanh,
Lơ lửng khéo trêu ngươi chỉ mãi mãi ?
Giời đất có san đi mà sẻ lại,
Hội tương phùng còn lắm lúc về sau † Yêu nhau xin nhớ nhời nhau.
HI Gặp ả đầu cũ.
Hong hong, tuyết tuyết,
Mới ngày nào còn chưa biết chỉ chỉ, Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì,
Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu, Ngã vi khir thoi khanh thượng thiếu, Khanh lâm trưởng hậu ngã thành ông.
Cười cười nói nói thẹn thùng,
Nghỉ bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại...
Vui một thú thanh san ngảnh lại, Những ngây ngây dại dại vì tình.
Đàn ai một tiếng dương-tranh |
CÁC ĐIỆU CA NHẠC
Điệu nhạc của ta cũng có nhiều lối, nay mỗi thề trích lấy một vài bài văn cồ lục ra sau này.
Điệu lưu thủy Gửi tình nhân Kề từ ngày từ ngày gặp nhau.
Trao lời hẹn cho vẹn vàng thau.
Giây tơ mành, xe chập lấy nhau.
Xe không đặng, đem tình thương nhở, Cảm thương người ngậm nghỉ ba thu, Xa cách nhau đêm nằm vẫn thấy, Thấy là thấy là thấy chiêm bao.
Biết bao lại vấn vương bên mình.
Minh giật mình giật mình đòi cơn;
Biết bao lại quan sơn một đường.
Tình tình thương, tơ vương mọi đường, Xin cho trọn cho trọn cương thường, Ai đơn bạc thì mặc lòng ai,
Xin cùng bạn cùng bạn trúc mai, Trặm năm lâu dài.
Điệu tứ đại cảnh Gặp anh hùng
Cơn phong trần, tay khi vỗ, nay mới tỏ, mới tỏ tài tình, thôi thôi thực gặp buồi danh đương danh.
Ngắm trời xanh, mở hội hoàn doanh, bày cuộc đua ganh, xui nên chuyện, vang châu huyện, lắm chuyện ky thay! Ai là kẻ kịch liệt tay ra tay ?
Nay mừng thay, cờ mở gió bay, trống động trời lay,
trông ra dạng, nguy nguy trạng, chức trọng quyền cao,
nghiêng trời bề lừng lẫy bao xiết bao ?
_ Xưa phi nguyền, rầy ước mai ao, ngày khát đêm khao.
Người người đâu, tung hoành thế ? Mới hay, biết tay anh hùng Ì
Luống những mong, lượng bề bao-dong, phận liễu đoái trông. Lòng lòng mong, ân tỉnh thắm, có xong, có xong
chăng là ? Mưa sa, chùm hoa sân ngọc, rườm rạp rườm rạp xuân thêm xuân, tư quân mấy phân chung tình. Xin xét đến có chrng ấy chuyện, xin ghi tạc có từng ấy câu.
Điệu nam ai
Khuuến hiếu
Khuyén ai gắn bó bảo đền, công trình thầy mẹ, ơn nặng
nhường sông, nghĩa chất non cao. Ấn cúc-dục cù-lao, sinh thành lo sợ xiết bao, lo cơm bữa nhường nao, ẫm bồng
vào ra vào.
Nưng niu bủ mớm đêm ngày xem tầy vàng ngọc; hay chạy hay đi, lúc nắng lúc mưa. Từ xưa tới giờ, lúc còn thơ, hẩy còn thơ, đến bây giờ chịu nhuốc nhơ, biết bao nhiêu mà ?
Trông năm trọn ngày qua, da mồi tóc bạc mây xa, khuyên trong cổi người ta, thảo ngay mới là.
Điệu kim tiền Giai gái tự tình
Xa xôi gửi nhời thăm, lúc nhắn nhe đôi bạn sắt cầm, meng két nghĩa đồng tâm, với người tri-âm. Thương nhau
hoài, nhớ nhau mãi, thương nhau hoài, ai chớ phụ tình ai.
Duyên vỉ: trúc mai, trúc mai hòa hợp, cùng bạn lâu dài, đăng dài lâu dài. Thương thì xin đó đừng phai, thương thì xin đó đừng phai hỡi người tình tự.
Điệu cd ban
Rượu tự tỉnh
Duyên thắm duyên cảng đượm, vì giống đa tình, thêm
nhiều ngày mặn nồng càng say. Bực khuynh thành, nào trách chỉ mình. Chỉ non thề nguyện cùng trời xanh, lòng dặn lòng cho đành, nỗi kết mỉnh kết mỉnh, thư nhạn đưa tin, đưatin tháng ngày. Nguồn ân ái, dám đâu vơi đầy, thưeứng càng bận, làm bận lũng đõy, vấn-vương tỡnh-tự
vì đây, tơ-bồng khéo xe, thực là may. Trăng soi thềm
hoa, lầu ngọc vừa sáng lòa, hương thơm ngạt nhà, khắp
gần xa, tiếng đàn hòa ca, ngâm vịnh mấy chén quỳnh say sữa cùng ninh sánh tầy vai. nhân pgẩi nhân ngãi lâu dài, là vui dám nào phai. Tâm đầu ý hợp, như ngỏ mấy nhời ngọc vô hà; Biện-hòa mới hay. Một ngày tương trị tình tự, ấy là ai, muôn vàn khôn nài, mua một tiếng cười, gọi mười người như mười, anh hùng có đâu, có là đâu. Thôi thôi đừng, thôi thôi đừng, thôi đừng năn nỉ, thêm nghỉ thêm sầu mặc ai dầu, lại hầu thương yêu, mặn nồng bao nhiêu, đường còn lâu, chút tình sâu, vui lòng ưng ý, danh lợi chỉ cầu.
Điệu hành vân Nhdn tri dm
Một đôi lời, một đôi lời, nhắn bạn tình ôi? Thề non nước giao ước kết đôi, trăm năm tạc dạ, dầu xa cách, song tình thương chớ phụ thì thôi. Niềm trọn niềm xin đừng sao lãng, trời kia định nợ ba sinh, đẹp duyên lành, trọn niềm phu phụ, bạc tài đanh tài danh. Dẫu tiên có lại non
bồng, kết mối tơ hồng, ấy thời trông thời trông. Ngãi sắt cầm hòa hợp trăm năm, bởi vì xa cách, nhắn nhe cùng -ban tri 4m.
Điện nam-bình Tình lụ biệt
Ôi tan hợp xiết bao tháng, ngày đợi chờ non nước, ngàn dam chơi vơi, mấy lời, nào dễ sai lời, Ai ôi, chớ đem da
đồi đời, ưng tình ưa ý, ý ưng tình thêm càng ưa ý, thiệt đà đặng mấy người, lại sai lời, tương tri cho đá vàng, thêm lại yêu vì. Nhớ khi cuộc rượu câu thi, thêm càng thương tiếc, phong lưu ai bì. Nặng vì tình. tình đôi ta, duyên trao nợ rằng ai, buộc lại người sinh, lời hẹn ba sinh, vấn vương
‘to tinh.
Kê qua mấy điệu trên này, còn như những điệu hát xầm chat ru, hát trống quân, cùng là vọng phu, giao duyên v.v.
thì chẳng qua cũng theo lối lục bát mà gia giảm, hoặc đệm thêm tiếng đưa đầy, hoặc đệm thêm tiếng ngâm nga mà thôi.
Đến như muốn làm theo điệu ca nhạc thì tất phẩ?
biết bài đàn mới làm được đúng các giọng lên xuống, mà hợp vào điệu cung thương. Nếu sai một chữ cũng không.
được, vì sai thì khi hát ngang giọng mà sai với cung đàn.
8.— DIEN-KJCH.— Dién-kich là một bài tuồng thuật lại:
những công việc, tính-tình, lời ăn liếng nói của người:
trước. hoặc tả cái thói đời đề ngụ ý khuyên-răn cho đời, Trong lối tuồng của ta có nhiều giọng. Mới khởi nói mấy câu bao quát cả ý trong tấn tuồng gọi là cdu giáo đầu:
nói chuyện kê lễ việc gì gọi là cẩu nói, câu giáo đầu và câu nói bất cứ dài vẫn, hễ hết ý thì thôi. Mỗi câu hoặc 4 chữ 5 chữ, hoặc 6, 7 chữ, mà thường phải đối nhau, nhưng cứ chữ cuối câu thứ ba, phải tiếp vần với chữ câu thứ nhì mà thường câu cuối cùng phải hạ vần trắc thì xuống mới.
mạnh. Tưởng mới ra đọc một vài câu gọi là câu xướng,.
tiên phật, đạo sĩ mới ra đọc một vài câu gọi là câu bạch xướng và bạch thường dùng lối thơ. Nói dứt lời hát một vài câu gọi là câu ẩn ; câu vần thường nói tiếp mấy tiếng cuối cùng câu trên, rồi xuống một hai câu lục bát. Đọc tho goi 1A ngdm; hat cho bồ ý câu nói hoặc đề thi hành
câu nói là /oạn. Loạn, hoặc dùng lối thơ, hoặc dùng lối phú, hoặc hai câu thơ rồi xuống một vài câu hoặc 4, 5 chữ, hoặc câu lục bát cũng được. Gập lúc buồn bẩ mà đọc mấy câu bi ai sầu thẩm gọi là câu than, gặp lúc khoan khoái mà đọc mấy câu thủng thỉnh ngâm nga gọi là câu khách, than thường dùng lối thơ, hay là lối lục bát; khách thì thường dùng lối phú mà hay đặt toàn câu chữ nho. Khi
đánh nhau đọc một vài câu gọi là câu chiến trận, khi đi đường đọc một vài câu gọi là câu ¿âu mổ. Hai câu này thì dùng lối thơ hoặc lối phú cũng được. Nói rút lại thì trong
lối tuồng tuy nhiều giọng, nhưng chẳng qua cũng dùng theo các lối thơ, lối phú, lối lục bát, lối ca ngâm, duy câu nỏi là có lối riêng mà thôi.
Trích lục mấu câu tuồng
Got ngọc từ vương tơ đỏ, mạch sầu bỗng quan lòng son; điềm xà yết sớm trình, mộng bi hùng chửa tro.
Phẳng phất hồn hoa theo gió, mơ màng phách quế đầm sương, kể từ ly biệt hai phương, chỉ xiết ái hoài ngàn dặm.
(Đào-phi-Phụng)
Bên tường thông hơi gió, trước mặt nức mùi hương, hay là tuệ nhần dao quang, lân mẫu ngu tình sở nguyện. Âu là đầu rút trâm, tay cồi xuyến, chân thay đép gót đồi hài,
bây giờ vui rặng đá đồi cây, chẳng còn tưởng lầu son gác
tia. (Sơn-Hậu)
Lõi không vần
1.— ĐỐI LIÊN.— Đối liên là một câu có hai vế đối nhau,
hoặc 4, 5 chữ gọi là câu tiều đốj, hoặc 7 chữ gọi là câu đối thơ, hoặc mỗi vế chia làm hai đoạn, gọi là câu đối phú, hoặc dài hơn nữa cũng được.
Đối liên phải chọn từng chữ từng ý mới hay, hoặc lấy sẵn câu trong sách mà ra thì cũng phải lấy sẵn câu trong sách mà đối. Có câu tức cảnh là trông thấy cảnh gì đối ngay cảnh ấy, có câu triết tự là lấy ý trong hình chữ nghĩa chữ mà đối nhau, có câu đặt một lối cầu ky gian xáp cho
người ta khó đối.
Người ta dùng câu đối đề thử tài nhau, hoặc tự mình
‘lam đề tỏ cái ý của mình. Người ta lại dùng đề mừng nhau, phúng nhau, hoặc là đề ở các nơi đình chùa.
Trich luc vai câu đối cồ Câu tức cảnh
;DL Ô Ủ đồng, đồng ngoạn nguyệt, :.Điềm đăng đăng các, các quan thư.
Vế trên nghĩa đen là dịch ghế dựa vào cây vông đề
‹cùng nhau xem giăng, vế dưới là đốt đèn lên gác đề cùng xem sách. Nghĩa tuy tầm thường song cùng là cảnh bấy :giờ và hai chữ ôýằ hai chữ ô đồng ằ trựng tiếng mà khỏc nghĩa, lại đối với hai chữ ôđăngằ hai chữ ôcỏcằ cũng rùng tiếng mà khác nghĩa cho nên là khéo,
Câu đề trong đền Quan-eông
Xích diện bình xích lâm, ky xich-thố trug-phong,.
trì khu thời, nô oong sích-đế.
Thanh đăng quan thanh sử, trượng thanh-long guền- nguyét, Gn vi xt, bat quy thanh-thién.
Về trên nghĩa là: bộ mặt đỏ ,giữ tấm lòng đỏ : cưỡi
ngựa xích-thố truy-phong, lúc ruồi rong, không quên về vua đỏ. Vế dưới nghĩa là: ngọn đèn xanh xem bộ sử xanh,.
cầm đao thanh-long-yền-nguyệt nơi kín đáo, chẳng then với giời xanh. Cõu này bao nhiờu chữ ôxớchằ là đỏ đối với toàn chữ ôthanhằ là xanh, cho nờn khẻo.
Câu triết tự
Ngọc tàng nhất điềm, xuất ứị chỳa nhập 0è ương.
Thồ tiệt bán hoành, thuận giả thượng nghịch giả hạ.
Về trờn nghĩa là chữ ôngọcằ giấu một nột chấm, đề
ra làm chữ ôchỳa ằ, cất vào làm chữ ôvương ằ, cú ý khoe mình tung-hoành khi làm chúa khi làm vua vậy.
Vế đưới là chữ ôthụ ằ bỗ đi nửa nột ngang, trụng xuụi là chữ ôthượngằ trụng ngược là chữ ôhạ?*, cú ý núi thuận thì là trên mà nghịch thì là dưới vậy. Hai câu ấy là của quận Hẻo ra mà ông Thượng-quận đối lại, vừa chọi từng nét chữ, vừa có ý nhị, cho nên là tài.
Tam mộc xâm đình, tọa trước hão hề nữ tử, Trùng sơn xuất lộ, tầu lai sứ giả lại nhân.
Vé trên nghĩa là ba cây mọc súm ở sân, có người con gỏi đẹp ngồi dưới; triết tự thỡ 3 chữ ômộcằ là chữ ô sõmằ,
chữ ônữ ằ chữ ôtử ằ là chữ ôhảo ằ.
Vế dưới nghĩa là rẫy nủi lộ ra con đường, có quan sứ-giả đi qua; triết tự thỡ hai chữ ôsơn ằ là chữ ôxuấtằ, chộ ôlạiằ chữ ônhõnằ là chữ ôsử ằ. Đõy là của quan trạng Phùng-khắc-Khoan di str Tin, đường qua rang nui, thay người con gái ngồi chơi dưới gốc cây mà đọc nên câu này, người con gái ứng khầu đối lại. Vừa hợp cảnh trước
mắt lại vừa chọi từng nét chữ.