Người bệnh có kiến thức đúng về bệnh cũng như phòng tái phát bệnh là một trong những yếu tố quan trọng góp phần giúp người bệnh thực hành phòng tái phát bệnh có hiệu quả và giúp qua trình điều trị kết quả tốt nhất.
Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh
Theo tài liệu hướng dẫn của Tổ chức Tiêu hóa thế giới năm 2010 nguyên nhân chủ yếu gây loét dạ dày tá tràng là do vi khuẩn Helicobacter pylori chiếm 75 – 85% các trường hợp. Tại bảng 2.5. người bệnh cho rằng nguyên nhân gây bệnh do di truyền chiếm 15,4 %, do ăn uống 21 người 40,4%, do stress 25,0%, do vi khuẩn Helicobacter pylori 19,2%. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trang có 38,9%
người cho rằng nguyên nhân chủ yếu gây loét dạ dày tá tràng là do ăn uống và 34,7%
cho rằng là do vi khuẩn Helicobacter pylori. Như vậy có thể thấy, người bệnh kiến thức nguyên nhân gây ra bệnh của người bệnh còn hạn chế, do đó nhân viên y tế cần tư vấn tăng cường kiến thức nguyên nhân gây bệnh cho người bệnh, khi người bệnh nắm bắt được nguyên nhân gây bệnh thì họ sẽ có biện pháp phòng bệnh cũng như phòng tái phát bệnh.
Kiến thức về triệu chứng của bệnh
Bảng 2.6. Tỷ lệ người bệnh kiến thức về triệu chứng đau bụng thượng vị 44,2%, gầy sút cân 32,7%, rối loạn tiêu hóa 15,4%, cả 3 triệu chứng chỉ có 4 người chiếm 7,7%.
Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trang có tới 44,5%
người bệnh trả lời đầy đủ về các triệu chứng của bệnh loát dạ dày tá tràng [6]. Đau bụng vùng thượng vị là triệu chứng nổi trội với những đặc điểm như đau âm ỉ, không đau dữ dội, có tính chất chu kì trong ngày và trong năm thường đau vào mùa hoặc tháng nhất định, thí dụ: thường đau vào mùa rét hoặc nóng, đau theo liên quan với bữa ăn và người bệnh có thể nôn hoặc buồn nôn, ợ hơi, ợ dịch chua, ăn kém hoặc không dám ăn vì sợ đau, gầy sút cân, đại tiện phân táo hoặc lỏng, thay đổi tính tình trở nên khó tính [3].
Kiến thức về biến chứng hay gặp nhất của bệnh
Bảng 2.7.Người bệnh có kiến thức về biến chứng hay gặp nhất là chảy máu tiêu hóa 50%, thủng ổ loét 25%, ung thư hóa 15,4%, hẹp môn vị 9,6%. Điều này phù hợp với đặc điểm bệnh loét dạ dày tá tràng thường là bệnh lành tính, có thể chữa khỏi ổ loét những dễ tái phát và có thể gây biến chứng đặc biệt là biến chứng chảy máu tiêu hóa [1].
Kiến thức của người bệnh về chế độ ăn phòng tái phát bệnh
Dạ dày và tá tràng có vai trò quan trọng trong việc hấp thu dinh dưỡng nhằm cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Khi bị bệnh lý viêm loét dạ dày tá tràng làm cho dạ dày và tá tràng không đảm bảo chức năng của mình. Chế độ ăn cho những người mắc bệnh dạ dày tá tràng nhằm mục đích làm giảm tiết acid, giảm tác dụng của acid dạ dày tiết ra tới niêm mạc dạ dày, hạn chế hoặc loại bỏ những kích thích có hại để dạ dày nghỉ ngơi giúp các tổn thương mau lành [1].
Bảng 2.8. Có 61,5% người bệnh đã có kiến thức về chế độ ăn giàu chất xơ, 19,2%
người bệnh có kiến thức luôn luôn sử dụng trái cây và chỉ có 15,4% người bệnh có kiến thức sử dụng sữa thường xuyên. Kết quả này cao hơn nghiên cứu Nguyễn Thị Huyền Trang, số người bệnh lựa chọn chế độ ăn hạn chế chất xơ chiếm tỉ lệ cao nhất là 41,6%;
số người bệnh luôn luôn ăn trái cây chiếm 29,2% [6]. Nghiên cứu của Trịnh Thị Thúy Hằng có 52,7% NB trả lời đúng ăn nhẹ từng ít một, nhai kỹ; 36,4% người bệnh trả lời nên ăn thức ăn giàu chất xơ, 38,2% người bệnh luôn sử dụng trái cây; 63,6% người bệnh
cho rằng nên sử dụng thịt theo nhu cầu và phù hợp với tình trạng bệnh; 52,8% người bệnh chọn chế biến thịt bằng cách luộc và hấp [2].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo người bệnh loét dạ dày - tá tràng nên có chế độ ăn giàu chất xơ khoảng 20-30g/ngày, vì nó hoạt động như bộ đệm, làm giảm nồng độ của các axit mật trong dạ dày và giảm thời gian tiêu hóa. Chế độ ăn giàu chất xơ có thể làm giảm nguy cơ phát triển vết loét mới và tăng tốc độ chữa lành các vết loét đang tồn tại [14]. Rau củ tươi có thể cung cấp rất nhiều vitamin có lợi cho sức khỏe đặc biệt có thể cải thiện tình trạng viêm loét của niêm mạc dạ dày. Rau củ nên dùng rau non luộc hoặc nấu dạng súp, các loại rau củ phải ăn chín. Không nên ăn sống, có thể sử dụng các loại rau củ nhưng không nên dùng ớt.
Hầu hết các loại trái cây đều tốt cho người mắc bệnh lý dạ dày tá tràng. Trong đó chuối là một loại quả mà người bị bệnh về dạ dày nên ăn vì trong chuối có rất nhiều dưỡng chất có lợi cho sức khỏe và có thể hạn chế được sự phát triển của vi khuẩn HP cũng như làm tăng lượng chất nhầy sản sinh giúp bảo vệ niêm mạc dạ dày. Tuy nhiên nên ăn chuối sau các bữa ăn, tránh ăn khi đói.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo người bệnh loét dạ dày tá tràng nên sử dụng sữa và thức ăn giàu đạm vì sữa được xem là lớp áo khoác bảo vệ niêm mạc dạ dày, còn thức ăn giàu đạm được xem là chất đệm tạm thời đề trung hòa các chất tiết của dạ dày, nhưng nó cũng kích thích sự tiết gastrin và pepsin. Do đó người bệnh không nên sử dụng quá nhiều [7].
Kiến thức của người bệnh về sử dụng thuốc phòng tái phát bệnh
Bảng 2.9. Khi bị đau dạ dày trở lại tỷ lệ người bệnh đi khám lại rất thấp chỉ có 21,2%, mà chủ yếu người bệnh sẽ tự uống thuốc theo đơn cũ 38,4%, hoặc tự điều chỉnh chế độ ăn 25%, hoặc tự uống thuốc 15,4%. Khi uống NSAID màng bao tan tỷ lệ người bệnh uống nguyên viên thuốc còn thấp 48,1%, nhai nát viên thuốc 21,2%, hòa tan thuốc với nước 19,2%, bẻ đôi viên thuốc 11,5%. Khi người bệnh uống NSAID viên nén trần tỷ lệ người bệnh kiến thức sai về cách uống vẫn cao 30,8% cho rằng uống thuốc trước bữa ăn 15 phút, uống khi đói 11,5%, nhận thức đúng theo khuyến cáo chỉ có 50% là uống vào bữa ăn hoặc sau khi ăn.
Thuốc được xem là lựa chọn hàng đầu trong điều trị loét dạ dày tá tràng, chế độ ăn giữ vai trò hỗ trợ nhưng không kém phần quan trọng. Tuyệt đối không được nhai, bẻ cắt đôi viên thuốc vì nếu làm như thế sẽ phá vỡ cấu trúc vỏ thuốc, làm mất tác dụng bảo vệ dạ dày của thuốc. Đối với các NSAID có dạng bào chế là viên nén trần (tức là không có màng bao đặc biệt) phải uống thuốc vào bữa ăn hoặc sau khi ăn (lúc no) để giảm kích ứng dạ dày và phải uống với nhiều nước, ít nhất là 200ml. Đối với loại thuốc này, cần nhai nát viên thuốc hoặc cho viên thuốc vào một ly nước, chờ viên thuốc rã hết rồi uống, để giúp chúng chóng hòa tan và trôi nhanh xuống ruột. Trong mọi trường hợp khác cần lưu ý là uống thuốc nhóm NSAID với càng nhiều nước càng tốt. Lượng nước uống kèm viên thuốc từ 200-250ml, tức là phải uống với một cốc nước to. Tuyệt đối không được uống rượu trong quá trình dùng thuốc vì các NSAID sử dụng cùng với rượu gây nguy cơ chảy máu dạ dày[20].
Vì vậy, nhân viên y tế cần quan tâm chú ý những điểm yếu thiếu của người bệnh về chế độ ăn phòng tái phát để từ đó tập trung tư vấn cho người bệnh.
Nhận thức đúng về lối sống phòng tái phát bệnh
Tại bảng 2.9. Tỷ lệ người bệnh cho rằng cà phê gây hại cho dạ dày 67,3%, có 61,5%
cho rằng không được hút thuốc lá và 65,4% lựa chọn không nên hoạt động trí não trong khoảng thời gian 30 phút sau ăn, 71,2% lựa chọn không nên hoạt động thể lực mạnh trong khoảng thời gian 30 phút sau ăn, 57,7% lựa chọn không nên ăn trước khi đi ngủ.
80,1% lựa chọn người bệnh cần giữ ấm vùng bụng, 92,3% lựa chọn việc đảm bảo vệ sinh ăn uống. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang có 62,5% NB cho rằng cà phê gây hại cho dạ dày; 56,9% cho rằng NB không nên hút thuốc lá; 52,8% lựa chọn không nên hoạt động trí não trong khoảng thời gian 30 phút sau ăn và 73,6% người bệnh cho rằng không nên hoạt động thể lực mạnh trong khoảng thời gian 30 phút sau bữa ăn [6].
Các chuyên gia y tế khuyến cáo, người bị đau dạ dày không nên uống cà phê vì chất caffeine có trong cà phê có thể gây hại đến dạ dày. Người bệnh đau dạ dày uống cà phê vào sẽ làm tăng tiết axit và dịch vị dạ dày khiến các vết viêm loét tại dạ dày ngày càng lan rộng và có thể gây xuất huyết dạ dày. Không những thế, uống nhiều cà phê khi
đang bị đau dạ dày có thể gây kích ứng niêm mạc ruột non khiến người bệnh bị tiêu chảy và hội chứng ruột kích thích [1].
Trong khói thuốc lá chứa hàm lượng chất độc nicotin rất cao, loại chất này đã được chứng minh là có khả năng kích thích và phá hủy thần kinh, cơ quan hô hấp và các bộ phận khác trong cơ thể. Ở những người bị viêm loét dạ dày tá tràng thì chất nicotin có trong khói thuốc lá khi được hít vào trong sẽ kích thích sản sinh nhiều chất cortisol - tác nhân gây viêm loét dạ dày tá tràng và làm tăng nguy cơ mắc bệnh nếu như người bệnh có nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori. Bên cạnh đó, thuốc lá còn kích thích niêm mạc dạ dày sản sinh ra chất endothelin làm cho cơ chế tự bảo vệ của niêm mạc dạ dày bị suy yếu. Hút thuốc lá làm giảm lưu lượng máu đến vùng niêm mạc dạ dày và ngăn cản không cho dạ dày bài tiết ra chất nhầy. Do vậy, những đối tượng có hút thuốc lá, đặc biệt là những người hút thuốc lá thường xuyên với số lượng nhiều rất dễ bị viêm loét dạ dày tá tràng. Hút thuốc lá làm hư lớp nhầy bảo vệ dạ dày, khiến các bệnh lý về dạ dày như viêm, loét, hành tá tràng,... phát triển mạnh hơn. Cũng vì thế mà nguy cơ mắc các bệnh ung thư cao hơn rất nhiều so với những người không hút thuốc [14].
Do đó, lối sống lành mạnh sẽ có vai trò rất quan trọng trong việc phòng tái phát bệnh loét dạ dày tá tràng, đòi hỏi mỗi người người bệnh phải có lối sống lành mạnh, muốn vậy nhân viên y tế cần trang bị kiến thức đầy đủ cho họ để tăng cường nhận thức cũng như góp phần vào tuân thủ đúng lối sống tốt phòng tái phát bệnh [14].