Khái niệm sản xuất vật chất. Tại sao nói sản xuất vật chất là cơ sở của

Một phần của tài liệu Triết học mẫu bài 2 (update 6 12) (Trang 28 - 31)

* Khái niệm sản xuất vật chất: Sản xuất vật chất là một loại hình hoạt động thực tiễn với mục đích cải biến các đối tượng của giới tự nhiên theo nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội.

* Vai trò của sản xuất vật chất

- Sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người.

- Sản xuất vật chất là tiền đề trực tiếp tạo ra “tư liệu sinh hoạt của con người”

nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con người

- Sản xuất vật chất là tiền đề của mọi hoạt động lịch sử của con người, hình thành nên các quan hệ kinh tế- vật chất giữa người với người, từ đó hình thành nên các quan hệ khác: chính trị, đạo đức, pháp luật, tôn giáo... cũng như các điều kiện, phương tiện bảo đảm cho hoạt động tinh thần của con người

- Sản xuất vật chất là điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người.

- Hoạt động sản xuất xã hội bao gồm:

+ Sản xuất vật chất: Ví dụ như sản xuất máy, tủ lạnh, lúa gạo, thịt, cá, xà phòng…

+ Sản xuất tinh thần: Ví dụ như sáng tác bài hát, tiểu thuyết, phim…

+ Sản xuất ra bản thân con người: Đó là hoạt động duy trì nòi giống của con người.

Trong các loại hoạt động sản xuất nêu trên, sản phẩm đóng vai trò là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội, và giám sát đến cùng quyết định toàn bộ sự vận chuyển của đời sống xã hội.

- Khi sản xuất vật chất tức là con người lao động.

Lao động chính thức được chuyển đổi thành lớn và mang tính chất quyết định cho con người như:

+ Cơ thể con người không ngừng hoàn thiện và phát triển, có dáng đi thẳng, không còn gù lưng như loài cây. Có chức năng phân tích giữa các chân, tay và bộ tách. Các giác quan của con người cũng phát triển.

+ Trong quá trình lao động sản xuất, con người xuất hiện như yêu cầu “nói chuyện” với nhau. If not, the interface is with nhau, con người không thể lao động sản xuất.

Do đó, tiếng nói, chữ viết (tức là ngôn ngữ) xuất hiện, trở thành phương tiện để giao tiếp, trao đổi, truyền bá tri thức, kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác.

+ Nhờ lao động sản xuất, buôn bán, tiêu thụ hàng hóa, giữa con người xuất hiện các mối quan hệ xã hội trong mọi lĩnh vực như chính trị, tôn giáo, đoàn thể, nghệ thuật…

- Sản xuất là yêu cầu khách hàng của hội sinh tồn.

Trong bất kỳ xã hội nào, mọi người đều có những nhu cầu sử dụng từ cấp độ tối thiểu đến cấp độ thưởng thức như ăn, mặc định, nghe nhạc, xem phim, quay lại, đi du lịch…

Muốn thỏa mãn những nhu cầu trên thì con người phản hồi sản xuất. Bởi vì sản xuất là điều kiện của tiêu chuẩn. Sản xuất càng phát triển thì hàng hóa càng nhiều, tiêu dùng càng phong phú và ngược lại. Bất cứ xã hội nào cũng không thể tồn tại, phát triển nếu không tiến hành sản xuất vật chất.

- Chất lượng sản xuất ra là cơ sở cho các xã hội tiến bộ.

Suốt chiều dài lịch sử của xã hội loài người, nền sản xuất của cải xã hội không ngừng phát triển từ thấp đến cao.

Từ chỗ chỉ sử dụng công cụ lao động bằng đá (thời kỳ đồ đá ở xã hội nguyên thủy), chế độ dần dần được tạo ra bằng đồng (vào thời kỳ đồ đá ở xã hội cổ đại), sắt (vào thời gian) Anpha đồ họa từ thời đại cổ đại đến trung đại).

Sau đó, nhờ cách mạng công nghiệp để phục vụ sản xuất, con người biết sử dụng máy hơi nước, các hệ thống cơ khí hóa, hiện đại hóa (vào cận đại và hiện đại).

26. Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

* Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất:

+ Người lao động: Là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội

+ Tư liệu sản xuất

- Đặc trưng của lực lượng sản xuất:

- Đặc trưng chủ yếu của lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa người lao động và công cụ lao động, đối tượng lao động. Trong đó, người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết định

- Sự phát triển của lực lượng sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình độ - Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang phát triển, cả người lao động và công cụ lao động, đối tượng lao động được trí tuệ hoá

* Khái niệm và kết cấu của quan hệ sản xuất

+ Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu , sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội.

+ Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất: là quan hệ sản xuất giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản xuất và phân công lao động.

+ Quan hệ phân phối sản phẩm: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội , nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng.

* Đặc trưng của quan hệ sản xuất

+ Các mặt trong quan hệ sản xuất có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau

+ Quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định bản chất và tính chất của quan hệ sản xuất

+ Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội

* Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất:

- LLSX thế nào thì QHSX phải thế đấy. LLSX là nội dung vật chất, còn QHSX là honhf thức xã hội của quá trình sản xuất.

- Khi LLSX biến đổi thì QHSX sơm muộn cũng phải biến đổi theo.

- LLSX quyết định cả ba mặt của QHSX tức là quyết ddihj cả về chế độ sở hữu, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức phân phối sản phẩm.

-> Sự phát triển LLSX đến trình độ nào đó nhất định làm cho QHSX trở nên không phù hợp với trình độ của LLSX nữa. Khi đấy xuất hiện mâu thuẫn giữa LLSX với QHSX, mâu thuẫn này tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp, bởi lẽ giai cấp đội diện cho LLSX tiến bộ luôn gắn với LLSX tiến bộ, giai cấp bảo thủ phản tiến bộ luôn gắn với lực lượng lạc hậu. Đỉnh cao của cuộc đấu tranh này là cách mạng xã hội nhằm xoá bỏ “ xiềng xích trói buộc” LLSX để xác lập QHSX mới phù hợp với trình độ của LLSX.

Một phần của tài liệu Triết học mẫu bài 2 (update 6 12) (Trang 28 - 31)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(38 trang)
w