Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội

Một phần của tài liệu Triết học mẫu bài 2 (update 6 12) (Trang 33 - 36)

Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.

VD: Từ xưa Việt Nam là một nước có phương thức sản xuất Nông nghiệp lạc hậu nên tâm lí của người VN thích con trai hơn con gái để làm những việc nặng nhọc.

Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội do tồn tại xã hội xã hội quy định nhưng ý thức xã hội không phụ thuộc vào tồn tại xã hội 1 cách thụ động mà nó có tác động tích cực trở lại tồn tại xã hội khi đã ra đời ý thức xã hội có quy luật riêng của nó.

VD: Trong xã hội phong kiến, khi hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời trong lòng xã hội và dần dần mạnh mẽ, nảy sinh quan niệm cho sự tồn tại của kiến trúc chế độ là trái với công cụ, không phù hợp hợp với con người tính toán và cần được thay thế bằng công thức chế độ và tính toán con người hợp lý.

* Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội:

- Tính độc lập tương đối và sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội thể hiện:

+) Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội do không phản ánh kịp những thay đổi của tồn tại xã hội do sức ỳ của thói quen, truyền thống, tập quán và tính bảo thủ của một số hình thái ý thức xã hội v.v tiếp tục tồn tại sau khi những điều kiện lịch sử sinh ra chúng đã mất đi từ lâu; do lợi ích nên không chịu thay đổi.

* Ý nghĩa:

- Những tư tưởng cũ lạc hậu không tự động mất đi mà phải thông qua cuộc đấu tranh cải tạo.

- Phải xây dựng lý luận khoa học trên cơ sở tổng kết thực tiễn đảm bảo phản ánh kịp thời những thay đổi của cuộc sống đồng thời tạo dựng cơ sở vật chất để hình thành ý thức xã hội mới.

VD: Tính lạc hậu của ý thức xã hội thể hiện tư tưởng, tác phong, thói quen cũ như gia trưởng, tâm lý ưa thích con trai của nhiều gia đình, trọng nam khinh nữ...

vẫn tồn tại.

+) Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội. Do tính năng động của ý thức, trong những điều kiện nhất định, tư tưởng, đặc biệt là những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội; dự báo được quy luật và có tác dụng tổ chức, hướng hoạt động thực tiễn của con người vào mục đích nhất định.

Ý nghĩa: Muốn có ý thức xã hội mới – ý thức xã hội XHCN chúng ta phải phát huy cao tính năng động sáng tạo của nó và vai trò của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới đồng thời khắc phục tính bảo thủ, thụ động ỷ lại trong cuộc sống.

VD: Khoán 100 và khoán 10 năm 1981 và năm 1988 xuất phát điểm là 1 nước có nền nông nghiệp lạc hậu nên năm 1981 nhà nước ta đã ra nghị quyết 100 cũng là khoán 100 có nghĩa là: "Khoán chui", một mặt, phản ánh sự bắt đầu đổ vỡ khó tránh khỏi của mô hình tập thể hoá triệt để ruộng đất, sức lao động và tư liệu sản xuất khác của nông dân; mặt khác, phản ánh tính tất yếu kinh tế - khôi phục lại chức nǎng kinh tế hộ nông dân.

Đến nắm năm 1988 ra khoán 10 cũng là nghị quyết 10 của Bộ chính trị Cùng với việc thực hiện khoán 10 là sự đổi mới toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đổi mới hoạt động kinh tế - xã hội ở nông thôn. Từ đây, chức nǎng kinh tế

của hộ nông dân được xác lập trở lại. Từ đó đến nay Việt Nam nằm trong các nước top đầu về sản xuất công nghiệp trong Đông Nam Á.

+) Ý thức xã hội có tính kế thừa. Quan điểm, lý luận của mỗi thời đại được tạo ra trên cơ sở kế thừa những thành tựu lý luận của các thời đại trước. Kế thừa có tính tất yếu khách quan; có tính chọn lọc và sáng tạo; kế thừa theo quan điểm lợi ích;

theo truyền thống và đổi mới. Lịch sử phát triển của các ý tưởng cho thấy những giai đoạn hưng thịnh và suy tàn của t tưởng nhiều khi không phù hợp hoàn toàn với những giai đoạn hưng thịnh và suy tàn của nền kinh tế.

* Ý nghĩa:

- Chủ động lựa chọn kế thừa những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại để xây dựng xã hội mới cần gìn giữ và nâng cao các giá trị truyền thống quý báu như yêu nước, nhân ái đoàn kết… của dân tộc.

- Làm cơ sở đấu tranh chống quan điểm phủ định sạch trơn đối với quá khứ cũng như thái độ bảo thủ bê nguyên si những yếu tố tinh thần của các thời kỳ trước trong kế thừa di sản văn hóa.

Ví Dụ: Chủ tịch Hồ Chí Minh kế từ tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin

+ Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội cũng gây ảnh tới tồn tại xã hội. Thông thường, trong mỗi thời đại, tuỳ theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, có những hình thái ý thức xã hội nào đó nổi lên hàng đầu tác động và chi phối các hình thái ý thức xã hội khác. Điều này nói lên rằng, các hình thái ý thức xã hội không chỉ chịu sự tác động quyết định của tồn tại xã hội, mà còn chịu sự tác động lẫn nhau.

Mối liên hệ và tác động lẫn nhau đó giữa các hình thái ý thức xã hội làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội có những tính chất và những mặt không thể giải thích trực tiếp được bằng các quan hệ vật chất.

* Ý nghĩa:

Khi phân tích một hình thái ý thức xã hội nào đó, không chỉ chú ý tới điều kiện kinh tế - xã hội đã sinh ra nó; những yếu tố mà nó đã kế thừa của các thời đại trước mà còn phải chú ý tới sự tác động của nó với các hình thái YTXH khác.

+ Sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội là biểu hiện quan trọng của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội. Đó là

sự tác động nhiều chiều với các phương thức phức tạp. Sự tác động này thể hiện mức độ phù hợp giữa tư tưởng với hiện thực; sự xâm nhập của ý thức xã hội vào quần chúng cả chiều sâu, chiều rộng và phụ thuộc vào khả năng hiện thực hóa ý thức xã hội của giai cấp và đảng phái. Như vậy, ý thức xã hội, với tính cách là thể thống nhất độc lập, tích cực tác động ngược trở lại lên tồn tại xã hội nói riêng và lên đời sống xã hội nói chung.

Ý nghĩa:

- Là cơ sở để chống lại chủ nghĩa duy vật tầm thường chủ nghĩa duy vật kinh tế là những quan điểm không thấy hoặc phủ nhận tác động tích cực của xã hội.

- Cần phát huy vai trò của các yếu tố trong ý thức xã hội vào công cuộc xây dựng xã hội mới chú trọng đúng mức lĩnh vực tư tưởng loại bỏ những tư tưởng thói quen lạc hậu.

VD: Trong chế độ công xã nguyên thuỷ do lực lượng sản xuất còn thấp, công cụ sản xuất quá thô sơ (gậy gộc, hòn đá, cung tên) nên người nguyên thủy buộc phải thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất rừng cây, con suối), phải sống tập đoàn mới có thể kiếm được thức ăn, chống thủ dữ, tất cả của cải làm ra được chia đều, dùng hết không còn dư thừa, nên không thể có sự chiếm hữu làm của riêng, không có tình trạng người bóc lột người.

Nhưng khi công cụ bằng kim loại xuất hiện, lực lượng sản xuất có bước phát triển mới, Sản phẩm làm ra đủ mức sống tối thiểu và có dư ra đối chút, đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện chế độ tư hữu, mà hình thức đầu tiên là chế độ chiếm hữu nô lệ, tù binh và các thành viên nghèo đói trong xã hội biến thành nô lệ.

Một phần của tài liệu Triết học mẫu bài 2 (update 6 12) (Trang 33 - 36)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(38 trang)
w