Đánh giá chung về thực trạng kế toán NVL tại Công ty và phương hướng hoàn thiện

Một phần của tài liệu Hoàn thiện kế toán nvl tại công ty tnhh bao bì và thương mại anh đức (Trang 70 - 75)

CHƯƠNG 3:HOÀN THIỆN KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY

3.1. Đánh giá chung về thực trạng kế toán NVL tại Công ty và phương hướng hoàn thiện

3.1. Đánh giá chung về thực trạng kế toán NVL tại Công ty và phương hướng hoàn thiện.

Trong khoảng thời gian hơn 10 năm đi vào hoạt động, Công ty đã gặp không ít khó khăn trong việc nghiên cứu sản xuất và tìm kiếm thị trường. Nhưng bằng chính sự cố gắng của toàn thể nhân viên, Công ty TNHH Bao bì và Thương mại Anh Đức đã tự khẳng định được vị thế của mình trên lĩnh vực sản xuất và kinh doanh bao bì, thiệp,… Công ty đã có được những phát triển đáng tự hào cả về quy mô và trình độ quản lý. Kể đến ngày hôm nay, Công ty đã tạo dựng được một thị trường tiêu thụ cho riêng mình bao gồm các tỉnh miền Bắc và cả các nước Châu Âu, mà chủ yếu là Cộng hòa liên bang Đức. Các sản phẩm của Công ty đã đáp ứng được yêu cầu của khách hàng cả về mẫu mã, kiểu dáng và chất lượng.

Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức khá gọn nhẹ, linh hoạt. Các nhân viên trong bộ phận kế toán được phân công công việc phù hợp với trình độ chuyên môn của mình.

Đặc biệt, do đặc điểm của Công ty là chuyên về sản xuất sản phẩm, vì vậy công tác kế toán NVL luôn được chú trọng nhất, để đảm bảo cho việc sử dụng NVL tiết kiệm và đạt hiệu quả nhất, làm cho giá thành sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng.

Trong thời gian thực tập, được tiếp cận với mô hình kế toán, với cách tổ chức kế toán (đặc biệt là công tác kế toán NVL) và hệ thống sổ sách của Công ty, em có một vài nhận xét, đánh giá về ưu, nhược điểm trong công tác kế toán NVL và một số phương hướng hoàn thiện như sau:

3.1.1. Ưu điểm:

*Về bộ máy kế toán nói chung:

-Bộ máy kế toán được tổ chức tương đối chặt chẽ và khoa học.

- Mô hình tổ chức bộ máy kế toán theo kiểu tập trung tạo sự hiệu quả trong công tác hạch toán. Đồng thời làm giảm sự phức tạp trong việc tổ chức công tác kế toán.

-Đội ngũ nhân viên kế toán có trình độ chuyên môn tốt, có năng lực và nhiệt tình trong công việc.

-Cách bố trí nhân viên phù hợp với trình độ và năng lực của họ giúp cho công tác kế toán được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả thông tin kế toán trong quản lý.

3.1.1.1. Về công tác quản lý NVL:

*Khâu thu mua:

_Công tác thu mua NVL của Công ty luôn diễn ra thường xuyên và rất ổn định, các loại vật tư mua về luôn đảm bảo đúng SL, chủng loại và chất lượng vật tư luôn khớp với Hợp đồng nguyên tắc mà Công ty đã kí kết.

_Bộ phận kế hoạch sản xuất và phòng kế toán luôn kết hợp chặt chẽ để đề ra kế hoạch thu mua hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và luân chuyển chứng từ một cách rõ ràng, minh bạch, tránh làm mất mát chứng từ kế toán.

_Công ty thường chọn những nhà cung cấp thường xuyên để ký hợp đồng mua vật tư. Điều này giúp cho Công ty có thể yên tâm hơn về giá cả và chất lượng NVL mà bên nhà cung cấp giao.

*Công tác bảo quản, dự trữ và lưu trữ NVL:

_Công ty có hệ thống kho lưu trữ NVL khá tốt, đảm bảo cho việc lưu trữ vật tư an toàn, tránh làm hư hỏng, giảm chất lượng của vật tư khi lưu kho.

_Bộ phận kế hoạch sản xuất luôn có kế hoạch dự trữ vật tư hợp lý, tránh tình trạng thiếu hụt vật tư trong sản xuất, làm gián đoạn quá trình sản xuất. Và cũng tránh việc vật tư lưu trữ trong kho quá nhiều, trong thời gian lâu có thể làm cho chất lượng vật tư bị giảm. Hơn nữa, nếu mức tồn đọng vật tư trong kho quá lớn dẫn tới tình trạng tồn đọng tiền quá nhiều đối với vật tư, làm thiếu hụt tiền đầu tư vào các dự án kinh doanh khác.

_Thủ kho luôn có tinh thần trách nhiệm trong công việc, không làm thất thoát vật tư của Công ty.

*Công tác sử dụng NVL:

_NVL của Công ty được sử dụng hợp lý, hầu hết không có tình trạng lãng phí NVL trong sản xuất, giúp tiết kiệm chi phí vật tư, làm giảm giá thành sản phẩm.

_Các bộ phận nếu có nhu cầu sử dụng NVL đều phải lập Phiếu yêu cầu sử dụng NVL và trình lên cấp trên phê duyệt, đảm bảo NVL được sử dụng đúng mục đích.

*Công tác kiểm kê NVL:

Việc kiểm kê NVL luôn diễn ra theo định kỳ cuối tháng, được tiến hành bởi nhiều người ở nhiều bộ phận. Vì vậy, việc kiểm kê luôn đảm bảo tính chính xác và khách quan khi thực hiện.

3.1.1.2. Về công tác kế toán NVL:

_Về hệ thống chứng từ, sổ sách:

+Hệ thống chứng từ, sổ sách của Công ty luôn đầy đủ, hợp lý, hợp lệ theo chuẩn mực kế toán hiện hành, như: Phiếu chi, Phiếu thu, Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT, Biên bản kiểm nghiệm vật tư,… hay các sổ sách liên quan như Sổ chi tiết vật tư, Bảng tổng hợp nhập-xuất-tồn, Sổ chứng từ ghi sổ, Sổ đăng kí chứng từ ghi sổ, Sổ cái,…

+Hệ thống sổ sách, chứng từ gọn nhẹ đảm bảo được tính hiệu quả trong ghi chép cũng như quản lý, lưu trữ.

+Công ty sử dụng phương pháp thẻ song song để ghi sổ chi tiết. Phương pháp này đơn giản, rõ ràng, dễ kiểm tra, đối chiếu số liệu và phát hiện sai sót trong quá trình ghi chép và quản lý sổ sách. Nó phù hợp với quy mô cũng như đặc điểm NVL của Công ty.

_Về tính giá NVL:

+Công ty tính giá NVL nhập kho theo phương pháp giá thực tế. Điều này cho thấy, NVL nhập kho luôn được hạch toán với giá chính xác nhất.

+Giá xuất kho NVL được tính theo phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ do Công ty có ít danh điểm vật tư nhưng số lần nhập xuất lại nhiều, giúp cho việc hạch toán giá của từng loại vật tư xuất kho hợp lý và gần với giá của từng loại NVL nhập kho nhất.

_Về tài khoản sử dụng: Hệ thống tài khoản Công ty sử dụng trong hạch toán kế toán là theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC. Ngoài ra, trong quá trình hạch toán kế toán nói chung, hạch toán kế toán NVL nói riêng, Công ty đã mở các tài khoản sử dụng ra các tài khoản cấp 2, cấp 3 phù hợp với yêu cầu sử dụng. Ví dụ như trong TK 152, kế toán đã chi tiết ra các TK cấp 2 như 152.1 (NVL chính), 152.2 (NVL phụ), 152.3 (Nhiên liệu),… để tiện theo dõi chi tiết cho từng nhóm NVL trong quá trình sử dụng.

Nói chung, Công tác kế toán NVL của Công ty là khá tốt, đảm bảo tính chính xác, trung thực, hợp lý, khách quan trong các tài liệu kế toán NVL mà bên kế toán vật tư cung cấp.

3.1.2. Nhược điểm:

Bên cạnh những ưu điểm trong kế toán NVL thì Công ty còn có những nhược điểm cần phải khắc phục, hoàn thiện để bộ máy kế toán của Công ty hoạt động có hiệu quả hơn. Cụ thể:

_Về khâu thu mua NVL: Công ty thường xuyên thu mua NVL của các nhà cung cấp thường xuyên. Điều này dẫn đến hạn chế trong công tác tìm kiếm các đối tác mới có tiềm năng hơn, không so sánh được giá cả (nếu Công ty tìm kiếm các nhà cung cấp mới có thể giá cả vật tư cùng loại so với nhà cung cấp thường xuyên thấp hơn), chất lượng sản phẩm giữa các nhà cung cấp, các chính sách ưu đãi, trợ giá giữa họ. Điều này vô tình làm cho bộ phận phụ trách công tác thu mua bị bó buộc, hạn chế khă năng tìm kiếm nhà cung cấp mới của họ hay làm cho họ chỉ biết dập khuôn theo một mô típ có sẵn.

_Về lưu trữ NVL: Hệ thống kho lưu trữ của Công ty khá tốt, song việc lưu trữ NVL trong kho chưa được phân lô khoa học giữa các chủng loại vật tư, dẫn đến khó khăn trong việc cấp phát, quản lý và kiểm kê NVL trong suốt quá trình sản xuất.

_Về công tác kiểm kê: Đối với những NVL có SL nhiều và chiếm tỷ trọng lớn trong sản phẩm nhưng Công ty lại tiến hành kiểm kê theo phương pháp chọn mẫu.

Điều này có thể làm cho kết quả của quá trình kiểm kê không được chính xác tuyệt đối.

_Về tính giá xuất kho: Công ty tính giá NVL xuất kho theo phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ nên việc xác định giá vật tư xuất kho trong tháng phải chờ đến

thời điểm cuối tháng mới xác định và hạch toán được, dẫn đến khối lượng công việc bị dồn vào cuối tháng nhiều nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu kế toán khác.

_Việc hạch toán trên tài khoản: Mặc dù tài khoản 152 đã được hạch toán chi tiết ra các tài khoản cấp 2 để tiện việc theo dõi tình hình sử dụng của từng nhóm NVL, nhưng trên thực tế, nhiều khi kế toán chỉ hạch toán chung trên tài khoản 152.

Vì vậy, các bộ phận cần sử dụng số liệu về tài khoản này chỉ nhận được số liệu thông tin về tình hình nhập-xuất-tồn của NVL chung, chứ không biết được chi tiết các nhóm vật tư nhập xuất ra sao. Điều này cũng gây khó khăn cho công tác xác định kế hoạch thu mua đối với từng loại vật tư cụ thể.

_Về công tác lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Là một Công ty chuyên về lĩnh vực sản xuất, do vậy, NVL của Công ty luôn có SL hàng tồn kho tương đối nhiều, nhưng Công ty lại không lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho trong khi giá cả thị trường luôn biến động.

3.1.3. Phương hướng hoàn thiện:

Trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, Công ty TNHH Bao bì và Thương mại Anh Đức phải luôn có những phương hướng hoàn thiện công tác quản lý của mình để có thể đứng vững và phát triển mạnh trên thị trường kinh doanh. Do là công ty sản xuất nên việc đề ra phương hướng hoàn thiện bộ phận kế toán vật tư luôn được đặt lên hàng đầu trong bộ máy kế toán. Hoàn thiện kế toán vật tư giúp cho bộ máy kế toán gọn nhẹ hơn, linh hoạt hơn, và làm việc có hiệu quả hơn. Hoàn thiện công tác kế toán vật tư đảm bảo cho công tác quản lý và hạch toán vật tư nhanh hơn nhưng vẫn đạt hiệu quả cao trong công việc, giúp cho quá trình sản xuất được hoạt động liên tục, có hiệu quả và giảm thiểu được các khoản chi phí về NVL, làm giảm giá thành sản phẩm, đẩy nhanh quá trình tiêu thụ sản phẩm. Dưới đây là một số phương hướng hoàn thiện mà Công ty đề ra trong kỳ sản xuất, kinh doanh tiếp theo:

_Việc sử dụng NVL cho sản xuất phải có kế hoạch cụ thể nhằm tiết kiệm chi phí NVL một cách tối đa, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm và làm hạ giá thành sản phẩm.

_Phân quyền và trách nhiệm rõ ràng giữa các cá nhân trong công tác thu mua,

_Tiến hành trích lập khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho hợp lý cho kỳ sản xuất, kinh doanh tiếp theo.

_Hệ thống sổ sách phải được ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời cả về mặt thời gian lẫn mặt số liệu trên sổ sách.

Một phần của tài liệu Hoàn thiện kế toán nvl tại công ty tnhh bao bì và thương mại anh đức (Trang 70 - 75)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(85 trang)