- Nếu dùng dầm thép cán (dầm định hình) thì cần bản táp cánh dưới (có thể táp nhiều lớp) để tăng khả năng chịu uốn và tiết kiệm thép.
- Nếu là dầm thép tổ hợp, chỉ dùng thêm bản táp khi kích thước dầm không táp không hợp lý (thể hiện ở bản thép dưới quá lớn). Bản táp được liên kết với biên dưới qua mối hàn, vì thế, chất lượng liên kết không tốt. Đồng thời, nếu bản thép dưới hoặc bản cánh có kích thước lớn thì mối hàn không đảm bảo liên kết được.
thưa Thầy, độ lệch tâm giữa tâm bản nối và TTH GD1 (138), mà trong file nhập số liệu của đồ án mẫu đúng không vậy thầy, TTH GD1 của dầm biên hay giữa nhỉ?
Dầm biên và dầm giữa thì giá trị này giống nhau.
Thì Thầy muốn có điểm cho các bạn trước hạn đăng ký học kỳ hè mà
Theo thông tin mật, thì học kỳ 1 năm sau Thầy Quốc Bảo dạy đồ án, mình dạy thiết kế môn học.
Vì thế, các bạn làm đồ án thì không cần thiết đăng ký kỳ hè này, đợi đến học kỳ 1 năm sau đăng ký Thầy Bảo cho phẻ re như bò kéo xe nhé.
Thầy!
Quyết định cuối cùng, khả năng chịu uốn Momen 10%, hay 15% vậy ạ.
Mong Thầy cho ý kiến!
Kết luận cuối cùng :
1. Khả năng chịu uốn ở TTGH CĐ1 : 15%.
2. Khả năng chịu uốn ở TTGH SD : 10%.
3. Khả năng chịu cắt ở TTGH CD1 : 80%.
thưa thầy việc chọn giá trị do, khoang đầu và khoang tiếp theo có nhất thiết phải tuân thủ là d0<1.5D không àh? e đọc tiêu chuẩn thì không thấy nói rõ vấn đề này? và nếu e chọn như vậy thì lực cắt của e quá lớn, còn nếu chọn d0>1.5D thì giá trị lực cắt mới thỏa<=80%. thầy cho e xin ý kiến với ạh? cảm ơn thầy:)
d0 ở đầu dầm <1.5D
d0 ở các mặt cắt giữa dầm <3D
Bản chất một bài toán thiết kế là một vòng lặp của quá trình: Chọn sơ bộ các kích thước cơ bản ==> Tính toán các đặc trưng hình học, nội lực tại mặt cắt nguy hiểm của các cấu kiện .v.v. ==> Kiểm toán ==> Chọn lại các kích thước cơ bản ==> Tính toán các đặc trưng hình học, nội lực tại mặt cắt nguy hiểm của các cấu kiện .v.v. ==> Kiểm toán ==>.v.v.
Với điều kiện công nghệ thông tin hiện nay theo Thầy Các câu hỏi đại loại như: "Em chọn bề dày, bề rộng, khoảng cách của các bộ phận chi tiết.v.v. như thế này là được chưa..v.v." là không cần thiết! Năm nay là 2013 rồi, em không thể sử dụng máy tính cá nhân bấm từng phép tính, sau đó ngồi cắm cúi nhập từng con số vào file word được. Các em cần tính các hạng mục trên các sheet của excel và có sự kết nối giữa các sheet với nhau. Đến hạng mục kiểm toán nếu không đạt (quá thừa hoặc quá thiếu), em sẽ quay trở về sheet trước điều chỉnh lại kích thước hình học của các bộ phận, từ đây thông qua các đường link các hạng mục tính toán khác sẽ tự động thay đổi hàng loạt.
Như vậy, việc đắn đo lựa chọn các kích thước hình hoạc ban đầu chỉ phù hợp với các sinh viên ở thời điểm 15 năm về trước, khi mà việc sở hữu chiếc máy vi tính là rất khó khăn. Còn đến thời điểm này em chỉ quan tâm đến các yếu tố:
1./. Chủng loại thép mà em dùng có nằm trong danh mục các loại thép được phép dùng để thiết kế cầu nêu trong Tiêu chuẩn thiết kế hay không?
2./. Bề dày các cấu kiện thép mà em đã chọn có nằm trong quy cách thép thương mại hay không (nhà sản xuất có cung cấp loại thép có bề dày này hay không)?
3./. Bề dày các cấu kiện thép mà em chọn có bé hơn bề dày tối thiểu mà Tiêu chuẩn thiết kế đã quy định hay không?
4./. Cấp BT mà em chọn có phù hợp với một cấu kiện BTCT thường/ BTCT dự ứng lực hay không?
5./. Chiều cao dầm chủ có thỏa mãn với yêu cầu về chiều cao tối thiểu mà Tiêu chuẩn thiết kế đã quy định hay không?
6./. Vị trí bố trí mối nối dầm chủ của em có thỏa mãn các yêu cầu: vận chuyển, cẩu lắp/ tạo độ vồng ngược/ không làm nát vụn thép cơ bản/ không nằm ở những mặt cắt có nội lực bất lợi..v.v.
hay không?
7./. Khoảng cách giữa các cột lan can, chiều cao các thanh tay vịn có phù hợp với quy định nêu trong Tiêu chuẩn thiết kế hay không?
8./. Độ dốc ngang mặt cầu mà em đã chọn có thỏa mãn yêu cầu về độ dốc ngang mặt đường mà em đã học trong môn “Thiết kế đường” hay không?
9./. Nếu chưa an tâm, em có thể đi thẳng đến mục kiểm toán dầm để thực hiện trước các kiểm tra cơ bản về đặc trưng hình học như kiểm tra độ mảnh các cấu kiện, kiểm tra tỷ lệ cấu tạo chung, kiểm tra yêu cầu bốc xếp.v.v..
Nếu xét tất cả các chỉ tiêu trên mà em thấy sự lựa chọn của mình không vướng mắc gì, thì em cứ vững tâm bước vào các hạng mục tính tiếp theo, nếu kiểm toán không đạt thì quay về điều chỉnh lại kích thước ban đầu. Thế thôi!
Ý kiến của Thầy, Cô và các Anh, Chị đi trước chỉ mang tính chất kinh nghiệm, tham khảo. Mà kinh nghiệm thì nó giống như chiếc gậy nó có thể giúp em đứng vững nhưng nó lại cản trở khi em muốn bay. Cứ tự tin lựa chọn theo cách hiểu của mình và hãy chuẩn bị kiến thức đủ sẵn sàng
“ăn miếng trả miếng” với giáo viên để bảo vệ sản phẩm thiết kế đầu tay của mình.
PhanQuocBao
Khi tính đến các kiểm toán mà không thỏa( kết quả lần3, kq lần 4, kiểm toán các bộ phận ..)(em chưa làm tới), thì phải chọn lại tiết diện !? như vậy kích thước sơ bộ Bài tư cách không đúng.
Mong nhận hồi âm của Thầy!
!Em xem lại câu trả lời trên là sẽ hiểu thêm mục đích của bài kiểm tra tư cách. Ở hạng mục này mới chỉ là lựa chọn các kích thước ban đầu.v.v. nên chưa xét đến sự đúng sai, mà chỉ xét về sự phù hợp với các nguyên tắc kết cấu, phù hợp với các ràng buộc hình học nêu trong tiêu chuẩn thiết kế. Các em cứ yên tâm, không bị thiệt thòi gì hết!
Thông thường nếu ai đó bắt em leo qua một bức tường cao, các em hành động một cách khó nhọc, nhưng đặt trường hợp các em lẻn vào vườn nhà người ta bẻ hoa bắt bướm gì đó..v.v. bị chủ nhà phát hiện rượt đuổi, các em sẽ phóng vèo vèo qua các bức tường một cách nhẹ nhàng chẳng chút khó khăn. Khả năng của các em rất lớn, nhưng thông thường các em không vận dụng hết khả năng đó, các em thường để dự trữ khả năng đó trong người chờ đến khi học lại lần 2, lần 3, lần 4 .v.v. thì các em mới tung ra. Thầy thì không thích thế, Thầy thích mấy em tung hết khả năng ra ngay từ đầu. Trong bài TKMH này, Thầy nhập vai ông chủ nhà, còn bọn em chính là những kẻ bắt bướm hái hoa. Hãy đợi đấy!
Bản chất một bài toán thiết kế là một vòng lặp của quá trình: Chọn sơ bộ các kích thước cơ bản ==> Tính toán các đặc trưng hình học, nội lực tại mặt cắt nguy hiểm của các cấu kiện .v.v. ==> Kiểm toán ==> Chọn lại các kích thước cơ bản ==> Tính toán các đặc trưng hình học, nội lực tại mặt cắt nguy hiểm của các cấu kiện .v.v. ==> Kiểm toán ==>.v.v.
Với điều kiện công nghệ thông tin hiện nay theo Thầy Các câu hỏi đại loại như: "Em chọn bề dày, bề rộng, khoảng cách của các bộ phận chi tiết.v.v. như thế này là được chưa..v.v." là không cần thiết! Năm nay là 2013 rồi, em không thể sử dụng máy tính cá nhân bấm từng phép tính, sau đó ngồi cắm cúi nhập từng con số vào file word được. Các em cần tính các hạng mục trên các sheet của excel và có sự kết nối giữa các sheet với nhau. Đến hạng mục kiểm toán nếu không đạt (quá thừa hoặc quá thiếu), em sẽ quay trở về sheet trước điều chỉnh lại kích thước hình học của các bộ phận, từ đây thông qua các đường link các hạng mục tính toán khác sẽ tự động thay đổi hàng loạt.
Như vậy, việc đắn đo lựa chọn các kích thước hình hoạc ban đầu chỉ phù hợp với các sinh viên ở thời điểm 15 năm về trước, khi mà việc sở hữu chiếc máy vi tính là rất khó khăn. Còn đến thời điểm này em chỉ quan tâm đến các yếu tố:
1./. Chủng loại thép mà em dùng có nằm trong danh mục các loại thép được phép dùng để thiết kế cầu nêu trong Tiêu chuẩn thiết kế hay không?
2./. Bề dày các cấu kiện thép mà em đã chọn có nằm trong quy cách thép thương mại hay không (nhà sản xuất có cung cấp loại thép có bề dày này hay không)?
3./. Bề dày các cấu kiện thép mà em chọn có bé hơn bề dày tối thiểu mà Tiêu chuẩn thiết kế đã quy định hay không?
4./. Cấp BT mà em chọn có phù hợp với một cấu kiện BTCT thường/ BTCT dự ứng lực hay không?
5./. Chiều cao dầm chủ có thỏa mãn với yêu cầu về chiều cao tối thiểu mà Tiêu chuẩn thiết kế đã quy định hay không?
6./. Vị trí bố trí mối nối dầm chủ của em có thỏa mãn các yêu cầu: vận chuyển, cẩu lắp/ tạo độ vồng ngược/ không làm nát vụn thép cơ bản/ không nằm ở những mặt cắt có nội lực bất lợi..v.v.
hay không?
7./. Khoảng cách giữa các cột lan can, chiều cao các thanh tay vịn có phù hợp với quy định nêu trong Tiêu chuẩn thiết kế hay không?
8./. Độ dốc ngang mặt cầu mà em đã chọn có thỏa mãn yêu cầu về độ dốc ngang mặt đường mà em đã học trong môn “Thiết kế đường” hay không?
9./. Nếu chưa an tâm, em có thể đi thẳng đến mục kiểm toán dầm để thực hiện trước các kiểm tra cơ bản về đặc trưng hình học như kiểm tra độ mảnh các cấu kiện, kiểm tra tỷ lệ cấu tạo chung, kiểm tra yêu cầu bốc xếp.v.v..
Nếu xét tất cả các chỉ tiêu trên mà em thấy sự lựa chọn của mình không vướng mắc gì, thì em cứ vững tâm bước vào các hạng mục tính tiếp theo, nếu kiểm toán không đạt thì quay về điều chỉnh lại kích thước ban đầu. Thế thôi!
Ý kiến của Thầy, Cô và các Anh, Chị đi trước chỉ mang tính chất kinh nghiệm, tham khảo. Mà kinh nghiệm thì nó giống như chiếc gậy nó có thể giúp em đứng vững nhưng nó lại cản trở khi em muốn bay. Cứ tự tin lựa chọn theo cách hiểu của mình và hãy chuẩn bị kiến thức đủ sẵn sàng
“ăn miếng trả miếng” với giáo viên để bảo vệ sản phẩm thiết kế đầu tay của mình.
nhiều. hihi.
Em chào thầy.
Thầy ơi cho em hỏi. Khi mình chọn số dầm chính là chẵn thì chúng ta tạo độ dốc ngang bằng phương pháp nâng dầm được không ạ.Và có phương pháp nào khác nữa không Thầy, vì phương pháp mui luyện nay ít dùng rồi. em xin hỏi thêm là chiều dài bản hẫng có quy định không thầy và nếu có thì là bao nhiêu là hợp lý ạ.
.Tiện thể Thầy trả lời luôn cho câu hỏi “Nên chọn số dầm chẵn hay lẻ?”. Trong thực tế công việc bên ngoài, thỉnh thoảng Thầy vẫn gặp tranh luận về vấn đề này. Kết quả những cuộc tranh luận thường là cãi xong ai về nhà nấy tiếp tục phận sự của mình, vì kết quả là huề, không ai thắng cả vì cơ sở, chuẩn mực để đánh giá là không rõ ràng.
Trong trường ĐH, các em thường “nể” Thầy-Cô nên nhiều khi quan điểm cá nhân của Thầy-Cô về một phương án đôi khi đối với các em gần như là mệnh lệnh, nhiều lúc không cần chứng minh. Thực tế, bên ngoài khi tranh luận với đối tác như Sở GTVT (khi thẩm định hồ sơ TK), với đơn vị TVTK khác (khi thẩm tra hồ sơ TK), muốn khẳng định em cần chứng minh hiệu quả của phương án bằng các con số cụ thể về giá thành, nội lực.v.v. chứ không phải nói suông, thông thường nếu cãi sòng phẳng thì 2 bên đều lúng túng như nhau.
Vỏn khuụn bản mặt cầu khụng phải là 1 tấm nguyờn rộng bằng ẵ mặt cầu, mà là từng tấm nhỏ nối giữa 2 dầm chủ. Vì vậy, nếu số dầm là chẵn thì chỉ có đoạn bản nằm giữa 2 dầm trong cùng là không có độ dốc ngang. Với khoảng cách giữa các dầm chủ ở Việt Nam mình chỉ từ 1.6m-:- 2.3m, việc xử lý độ dốc ngang cho bề rộng này chỉ là chuyện rất nhỏ, trong bản vẽ các kỹ sư thiết kế thường vẽ trắc ngang mặt đường là 2 đường thẳng có độ dốc ngang i=1.5-:-2% nối gấp khúc tại tim đường, bên ngoài thì không ai làm như vậy, mặt cắt ngang đường luôn là 1 đường vuốt cong, vì vậy chiều cao cần phải bù phụ là rất nhỏ, em không cần xử lý khi đổ bê tông bản mặt cầu cũng được, khi thảm bê tông nhựa nóng, đơn vị thi công vuốt 1 tí là xong.
Tạo độ dốc ngang mặt đường thường chỉ có mấy món đó thôi em: Điều chỉnh cao độ xà mũ, điều chỉnh cao độ đá kê gối, điều chỉnh bề dày lớp mui luyện.
Quan điểm của Thầy là: Những gì Tiêu chuẩn thiết kế đã ràng buộc cụ thể thì ta bắt buộc phải tuân theo, những gì Tiêu chuẩn thiết kế không đề cập đến thì người kỹ sư cứ thiết kế theo quan điểm của mình, không có sản phẩm nào được Thầy đánh giá là “ngon – bổ - rẻ” cả, được vế này thì sẽ khiếm khuyết ở vế kia, đã “ngon” và “bổ” thì không thể nào rẻ được, chọn dầm chẵn hay lẻ đều OK hết. Cứ kiểm toán thấy kết cấu thỏa mãn Quy trình, quy phạm là được!
Bản phủ bố trí vào để tăng thêm khả năng chịu kéo của cánh dưới; Bên cạnh đó, việc bố trí bản phủ còn phục vụ tốt cho quan điểm thiết kế dầm thép trước đây, cụ thể: để khai thác hiệu quả hơn lượng vật liệu thép trong dầm, người ta thường bố trí 2-:-3 bản phủ, càng về gần đầu dầm do momen càng giảm đi nên người ta sẽ lần lượt cắt bớt các bản phủ đi.
Trong thực tế, với chiều dài nhịp tính toán dưới 27m sử dụng dầm thép cán sẵn là đạt yêu cầu rồi, ta chưa cần phải sử dụng dầm ghép cũng như bản phủ. Tuy nhiên, đây là bài TKMH, mục tiêu là giúp sinh viên tập tễnh thực hành một hồ sơ thiết kế đầu tay, chứ không phải là giao cho sinh viên thiết kế một công trình có thực. Việc chọn dầm thép I định hình để thiết kế thì quá giản đơn vì các đặc trưng hình học của dầm đều được lập sẵn thành bảng, các em không rèn luyện thêm được các kỹ năng trong việc chọn lựa các tấm thép, cho nên các Thầy mới áp đặt các em kiểu tiết diện này.
Khuyên em nên làm dầm ghép có sử dụng bản phủ, để có cơ hội thực hành trọn vẹn các hạng mục tính toán. Sau này, khi ra làm bên ngoài các em muốn làm kiểu dầm gì cũng được tùy các em (làm việc khó hơn thì mới rắc rối, chứ làm việc dễ hơn thì quá đơn giản mà phải ko?).
Thưa Thầy, Thầy cho em hỏi mình lựa chọn dầm ngang đầu dầm và hệ liên kết ngang dựa theo điều kiện nào ạ?
Khi tính toán lan can cầu, Vtayvin và Vlienket bằng diện tích hình vành khăn nhân với khoảng cách giữa các cột lan can đúng không ạ?
Khi tính HSPBN thì pp Nén lệch tâm không thỏa cả 2 điều kiện: Hệ số mềm Alpha và B/Ltt thì mình sang pp Gối tựa đàn hồi. Nhưng số dầm của em là 8 dầm ( 7 nhịp ) thì không có bảng tra.
Mình áp dụng pp đòn bẩy áp dụng cho tất cả được không thầy?
thuyết minh mẫu Thiết kế cầu thép mà thầy gửi có chổ nhầm lẫn nhé! cụ thể là phần tính DC ở cuối trang số 6 DC =7641.194 N chứ không phải là DC =24178.62 N. công thức đúng nhưng kết quả tính bị sai!, em comment để Thầy sửa ạ!
Thầy, Thầy cho em hỏi mình lựa chọn dầm ngang đầu dầm và hệ liên kết ngang dựa theo điều kiện nào ạ?
Khi tính toán lan can cầu, Vtayvin và Vlienket bằng diện tích hình vành khăn nhân với khoảng cách giữa các cột lan can đúng không ạ?
Ý 1:
Dầm ngang (hoặc hệ liên kết ngang) có các tác dụng chính:
- Trong giai đoạn thi công nó có tác dụng liên kết các dầm chủ lại với nhau tạo thành một hệ