14.3.1. Rửa mặn dầu thô
Tất cả các loại dầu thô khi được lấy lên từ mỏ luôn có kèm theo khí và nước
mặn. Tại các nơi khai thác người ta phải loại khí và gạn lấy phần dầu lỏng trước khi chuyển chúng qua các đường ống dẫn dẫn tới bể chứa. Tuy nhiên một lượng nước mặn
vẫn còn lại trong dầu dưới dạng huyền phù nước-dầu (N-D). Huyền phù này thay đổi tuỳ theo từng loại dầu và nguồn gốc của dầu. Thông thường lượng nước mặn có từ 2 đến 4 gam trong một tấn dầu thô.
Nếu không loại hết các muối tan trong nước, khi chưng cất các muối sẽ sinh ra HCI làm ăn mòn các thiết bị công nghiệp và có thể gây hại cho việc sử dụng tiếp theo các sản phẩm dầu.
Phương pháp rửa mặn được tiến hành bằng cách thêm nước vào đầu thô ở nhiệt độ từ 70 đến 90°C, sau đó nước được tách ra bằng điện trường. Phương pháp rửa mặn có
thể loại được đến 95% lượng muối có trong dầu thô.
14.3.2. Chưng cất khí quyển dầu thô
Sau khi đầu thô được rửa hết mặn, người ta đưa dầu thô vào lò. Lò này được đốt nóng và duy trì ở 350 + 380'C, sau đó dầu được dẫn vào cột chưng cất liên tục làm việc.
ở áp suất khí quyền (hình 14.2).
Những phân đoạn khác nhau được tách ra ở đầu cột và ở cuối cột hoặc ở bất kỳ nơi nào khác trên cột cất.
Nhiệt độ của cột được điều chỉnh sao cho ở đầu cột nhiệt độ luôn luôn là 70'C còn ở đáy cột là 370 + 380%. Nếu nhiệt độ ở đáy cột vượt quá nhiệt độ này sẽ gây nên cracking nhiệt các hyđrocacbon nặng. Trong các điều kiện làm việc như thế người ta có
thể thu được:
ằ[Etan [Daw tho} ©,
t TS (6) (7) (8)
“ý L
soc 140° II0C ứC
® @
Xăng nhe eae
® KhíC¡~œ
Cạn chưng cất khí quyển — WJ (2) Hình 14.2. Sơ đỗ nguyên lý chưng cất dảu mỏ:
1; 2: lò đốt: 3: bộ phận loại mân: 4; 5: cột cất đĩa;
cột cất hạt nhổi: 9; 10; 11 cột stripping.
— Ở đầu cột: phần nhẹ gồm khí, xăng nhẹ. Phẩn này lại được tách thành các sản phẩm khác nhau trong một dãy cột gồm các thiết bị tách khí. Một phần của phân đoạn nhẹ này. dùng làm dòng hồi lưu của cột cất.
— 6 phan doan gitta 70°C va 205 + 220°C: người ta tách được hai phan đoạn sản phẩm là: xăng và naphta.
~ Phần dầu lửa (kerosene) gồm:
Nhiên liệu cho động cơ phản lực.
Dầu hoả.
292 Chương 14. Dâu mỏ và loc hoa dau
Các dung môi khác.
~ Phần xăng nặng gồm: Các thành phần cơ bản của xăng nặng. nhiên liệu.
~ Căn chưng cất ở đáy cột được gọi là cặn khí quyển. Cặn này có thể được dùng để sản xuất nhiên liệu nặng, hay được dưa vào cột cất chân không.
Xử lý các phần trích trung gian
Các phần trích ra ở các vị trí khác nhau trẻn cột cất bao giờ cũng kéo theo một
lượng nhất định các sản phẩm dễ bay hơi. Các sản phẩm dễ bay hơi này cần phải dược đưa trở lại cột chưng cất. Để làm điều đó trước khi trích lấy sản phẩm thì phản trích đó (là xăng hoặc kerosen) được xử lý trong một cột nhỏ độc lập bảng cách tiêm hơi nước vào cột đó. Việc đưa hơi nước vào cột này cho phép kéo theo các sản phẩm dễ bay hơi
nhất. Các cột nhỏ này được gọi là các cot stripping bang hoi nudc (cot phụ với hơi
nước). Hình 14.3 trình bày nguyên tắc xử lý bằng cách dùng cột phụ với hơi nước của phần trích trung gian.
Trong thực tế các cột nhỏ được đặt ở các vị trí khác nhau dọc theo cột chính cấu
tạo nên một cột lớn.
Cot phu
“ Hoi nude
| San pham (xang....).
Hình 14.3. Nguyên tác xử lý phần trích canh cot cat bang cach ding cot phu
với hơi nước.
Cột cất
chính với đĩa
Xử lý phân đoạn nhẹ
Phần nhẹ đi ra khỏi cột, một phản trong đó được làm lạnh trong bộ phận ngưng tụ và được đưa trở lại cột cất tạo nên dòng hồi lưu. Phần còn lại được xử lý trong một dãy gồm ba cột liên tục. Việc xử lý này cho phép ta tách được xăng nhẹ, phần C, (phần butan), phần C; (phần propan), và khí giàu etan, metan. Hai khí này được đưa vào phần khí làm nhiên liệu cho nhà máy lọc hóa đầu để đốt nóng các lò. Trong ba cột tách liền
nhau, cot đầu tiên làm việc ở áp suất từ 3 đến 6 bar cho phép thu được ở đáy cột một
pentan, hexan và các đỏng phản của chúng. Phản đầu cột đi vào cột
L cao hơn từ l5 đến 20 bar. Ngudi ta thu hồi ở đáy cột butan
phản xăng nhẹ già thứ hai làm việc ở
dưới dạng lỏng, phản đầu cột lại được đưa vào cột thứ ba làm việc ở khoảng 30 bar. Như
vậy ở đáy cột ta thu được propan dưới dạng lỏng, phần đảu cột được giảm áp và sản
phẩm được đưa vào mạng khí của nhà máy để làm nhiên liệu đốt nóng các lò.
14.3.3. Chưng cất chân không,
Cận chưng cất ở áp suất khí quyển có thể được đưa toàn bộ hay một phan vào cột
chưng cất chân không, ở nhiệt độ từ 70'C đến 350'C. Cũng giống như phương pháp chưng cất khí quyển. ở đây người ta cũng thu được nhiều sản phẩm khác nhau ở các vị
trí khác nhau trên cột cất (xem hình 14.2)
Một trong những mục đích chính của việc cất chân không là thu lại ở đầu cột
một phân đoạn nặng (xăng nặng). Phân đoạn này có thể được chuyển hóa thành các sản phẩm nhẹ hơn đặc biệt là xăng qua kỹ thuật cracking xúc tác. Các phần khác và cặn chân không được dùng để sản xuất các nhiên liệu nặng.
Cặn chân không của một số dầu thô (dầu mỏ loại aromatic) có thể được dùng.
làm nguyên liêu đầu để sản xuất bitum trong một số nhà máy chuyên dụng. Có những nhà máy lọc hóa dầu được trang bị các thiết bị chuyên dụng đặc biệt để sản xuất dầu mỡ bôi trơn. Trong trường hợp này, việc chưng cất chân không của cặn chưng cất khí quyển phải dùng các dầu thô loại parafinic. Các phân doạn nặng trong chưng cất chân không của cặn khí quyển dầu parafinic chứa các hydrocacbon parafin có thể được dùng làm đầu gốc chế tạo đầu mỡ bởi trơn.
SS Basse
ee ee ee ee Han
eee
Chương 1 5