BÀI 2: SÁNG TÁC TRANG PHỤC NỮ
2.2. Xây dựng chủ đề và ý tưởng sáng tác
Ý tưởng sáng tác là tất cả những gì xung quanh chúng ta mà đôi khi chúng ta không hề nhận ra.
Ý tưởng sáng tác ở đây chính là tư duy, là cách nhìn nhận, là cảm xúc của mỗi người khi tiếp cận với một hình tượng nào đó. Đây là một khái niệm rất trừu tượng.
Ý tưởng thiết kế rất đa dạng, đó là bất cứ điều gì gây cho chúng ta cảm xúc, và khi cảm xúc đến thì tư duy sáng tạo sẽ thăng hoa từ đó làm nên những sáng tác vô cùng độc đáo và mới lạ. Một bộ sưu tập nếu không có ý tưởng thiết kế thì sẽ mất đi linh hồn của nó, nó khiến cho các sáng tác trở nên vô hồn, không thống nhất, đây là một điều tối kị trong thiết kế thời trang. Từ hình ảnh của ý tưởng thiết kế chúng giản lược chi tiết làm nên những hình tượng cách điệu với đường nét đơn giản mà không mất đi cái thần của ý tưởng ban đầu để từ đó chúng ta sẽ xây dựng được biểu tượng chung cho trang phục. Biểu tượng là tinh thần của bộ sưu tập.
Cuộc sống xung quanh ta có rất nhiều điều kì thú, thiên nhiên là một kho tàng vô tận bởi nó vốn đa dạng và sinh động, từ chiếc lá đến các con vật, đồ chơi trong cuộc sống đều là nguồn cảm hứng khơi gợi những ý tưởn sáng tạo, độc đáo và mới lạ, chính vì vậy chúng ta cần quan sát và nghiên cứu ý tưởng mà chúng ta sáng tác rồi thể hiện một cách chính xác nhất sau đó phát triển lên biểu tượng gắn liền với thực tế.
Phát triển ý tưởng nghĩa là giản lược bớt ( nhìn tổng quan) và giữ lại những cấu trúc cơ bản nhất của vật, hình dạng đơn giản nhất của thiên nhiên
2.2.2. Cơ sở hình thành ý tưởng
Trong quá trình sáng tác, ý tưởng, nguồn cảm hứng là điều quan trọng nhất, ý tưởng có thể xuất phát từ rất nhiều nguồn khác nhau :
+ Các hình ảnh thiên nhiên: Đó là khi con người lắng dịu hồn mình lắng nghe những giai điệu cuộc sống, có thể đó là cảm xúc về bầu trời trong cơn mưa, hay một song cửa sổ đầy hoa mà chúng ta bắt gặp hoặc hình ảnh ngộ nghĩnh đầy màu sắc của chú bọ dừa trên kẽ lá, tất cả đều có thể là ý tưởng cho chúng ta thiết kế
+ Các tác phẩm nghệ thuật :
20 + Trang phục dân tộc :
Hình ảnh các trang phục dân tộc cũng là một nguồn cảm hứng cho những nhà thiết kế thời trang chuyên nghiệp bởi những hoa văn thổ cẩm tinh xảo hay màu sắc phối hợp tuyệt đẹp giữa các tông màu với nhau tạo nên một ấn tượng khó phai.
Ngoài những ý tưởng minh hoạ trên thì chúng ta còn rất nhiều ý tưởng để khai thác ví dụ như các hình mẫu hoa văn hay cảm xúc ngay đối với con người mà mình tiếp xúc gây cho mình ấn tượng mạnh mẽ, vì vậy chúng ta có thể thấy bất cứ điều gì gây cho chúng ta cảm xúc đều có thể viết lên thành ý tưởng và từ đó hình thành nên hình cách điệu rồi phát triển lên thành biểu tượng cho trang phục và từ đó bộ sưu tập thời trang ra đời.
2.3. Cách điệu ý tưởng và phác thảo trang phục 2.3.1. Cách điệu ý tưởng
Cách điệu ý tưởng là chúng ta giảm bớt, lược bớt chi tiết của đối tượng chúng ta lấy làm ý tưởng sáng tác và giữ lại những hình dáng có cấu trúc cơ bản nhất của vật, những hình dạng đơn giản nhất của thiên nhiên và từ đó tạo nên kết cấu gần giống với trang phục ( cách điệu ).
2.3.2. Phác thảo trang phục
2.3.2.1. Phác thảo dáng người mẫu
Nhìn chung cho dù là cơ thể nam hay nữ đều khá giống nhau về sự liên quan giữa các bộ phận trên cơ thể và kích thước của chúng so với chiều cao chiều cao của đầu.
a. Sự khác nhau giữa cơ thể nam và nữ
- Về kích thước: Chiều cao trung bình của nữ thấp hơn của nam giới - Về cơ thể học:
+ Xương lồng ngực của nữ nhỏ hơn so với nam giới, nhưng độ chếch lại lớn hơn do đó vai thường hẹp và xuôi hơn.
+ Vùng ngực và vùng chậu của nữ rộng hơn vì vậy hông rộng và nổi bật hơn so với nam giới. Do cấu tạo của xương chậu mà xương đùi của nữ chếch hơn nên khi đứng thẳng thì hai đầu gối của nữ chạm vào nhau còn nam giới thì tách rời nhau.
+ Nếu chia cơ thể ra thành hai phần thân và chân thì phụ nữ chân dài hơn nam giới - Về hình thể:
+ Nữ có cơ bắp ít lộ hơn với những điểm bám ít được nhìn thấy tạo sự hài hoà giữa các đường nét
+ Ở cơ thể nữ ngực được cân bằng bởi đường cong rõ nét, hệ cơ bắp sắp xếp theo hình nối duỗi dài mềm dẻo.
b. Phác họa cơ thể nữ
21 Để phác hoạ được cơ thể nữ sao cho đúng và đẹp người vẽ cần căn cứ vào chiều cao đầu người và coi đó là mẫu chuẩn để xác định kích thước của bộ phận khác trên cơ thể, đồng thời chú ý tới đặc điểm cơ thể nữ. Trên cơ sở đó điều chỉnh, uốn nắn đường nét hình thể sao cho mềm mại, cân đối. Nếu ta chọn chiều cao đầu người làm chuẩn và coi đó là một M ( môdun) Thì tỷ lệ cơ thể người mẫu nữ cụ thể như sau:
- Cao cơ thể = 8-9 M - Rộng đầu = 3/4 M - Rộng cổ = 1/2 M - Xuôi vai = 1/3 M - Rộng vai = 1,6 M - Rộng eo = 1M - Rộng mông = 1,5 M - Dài tay ≥ 3M
- Rộng khuỷu tay = 1/3 M - Rộng cổ tay = 1/5 M - Rộng cửa tay = 1/4 M - Rộng gối = 1/2 M - Rộng cổ chân = 1/4 M - Rộng bàn chân ≥ 1/2 M
2.3.2.2. Phác thảo mẫu trang phục và khoác trang phục lên dáng người mẫu
Sau khi đã phác hoạ cơ thể người mẫu hoàn chỉnh ta tiến hành phác trang phục lên cơ thể người mẫu bằng các nét mờ. Trên cơ sở những nét mờ đó ta chỉnh sửa những nét, những chi tiết chưa đẹp, chưa phù hợp cho tới khi hoàn thiện. Ngoài việc phác hoạ quần áo người vẽ nên phác hoạ các vật dụng đi kèm để bộ trang phục đạt được sự thống nhất, thể hiện được ý tưởng một cách rõ ràng. Làm cho bộ trang phục trở nên sinh động ấn tượng hơn.
2.3.2.3. Phác hoạ các bộ phận của quần áo trên cơ thể a. Phác hoạ các loại cổ áo
* Đặc điểm của cổ áo
Cổ áo là bộ phận quan trọng của áo và được coi là bộ mặt của bộ trang phục. Vì vậy các nhà tạo mẫu luôn quan tâm tới bộ phận này. Họ luôn tìm tòi, sáng tạo với những phương pháp và tư duy mới. Do đó bộ phận này trở nên phong phú và đa dạng
Hình 2-1. Dáng người mẫu nam, nữ
22 hơn bất cứ bộ phận nào khác với nhiều phong cách, hình dáng, màu sắc và các hình thức trang trí khác nhau. Cổ áo thường có các loại sau:
+ Cổ không có lá cổ( Cổ tròn, cổ vuông, cổ tim, cổ thuyền, cổ chữ v, chữ u….) + Cổ đứng ( Cổ nam chân, cổ tàu, cổ lọ..)
+ Cổ nằm ( Cổ sen nằm, côe bèo…)
+ Cổ bẻ ve ( Cổ hai ve, cổ sam, cổ cánh nhạn, cổ chữ B, chữ K….)
* Phương pháp phác hoạ
Dựa trên cơ thể người đã phác hoạ để phác hoạ bộ phận cổ áo và tiến hànhtheo các bước sau:
B1: Phác hoạ mờ khung hình cơ thể
- Vẽ một đoạn thẳng AB có chiều dài bằng 2 lần chiều cao đầu
- Dựng một cung tròn đi qua điểm A và B sao cho khoảng cách từ điểm cao nhất của cung tròn tới dây cung tương ứng với lượng xuôi vai của cơ thể
- Chia dây cung thành 4 phần bằng nhau, lấy một phần ở giữa làm chiều rộng ngang cổ.
Qua đó dựng hình cổ của cơ thể.
- Vẽ phác hai đường vai cơ thể
B2: Phác cổ áo định vẽ lên khung hình cơ thể
Vẽ phác cổ áo bên ngoài khung hình, sau đó thể hiện sáng tối chú ý tới hình khối khi cổ được khoác lên cơ thể.
b. Phác hoạ các loại tay áo
* Đặc điểm của tay áo
Tay áo cũng có nhiều loại khác nhau như : Tay thường, tay bồng, tay loe….có độ dài ngắn, rộng hẹp khác nhau. Khi trang phục được mặc lên cơ thể do chất liệu vải khác nhau, và tư thế vận động khác nhau nên phần vải của tay áo thường tạo thành các nếp xếp, nếp gấp. Do đó muốn thể hiện được chất liệu cũng như tính chân thực của nó thì người vẽ cần chú ý quan sát tư thế vận động, chất liệu, đặc điểm hình dáng kích thước của mẫu để phác hoạ sao cho đúng với các tư thế vận động khác nhau, thể hiện các nếp xếp, nếp gấp một cách tinh tế, rõ nét nhất trên bản vẽ. Cụ thể như các loại tay rộng bằng chất liệu vải mềm thì khi vẽ phải đặc biệt quan tâm đến điều này.
+ Khi cánh tay buông xuôi thẳng thì phần vải xung quanh cánh tay có thể chảy đều, chạm hoặc không chạm vào cơ thể ở tất cả các phía
+ Khi cánh tay giơ ngang thì phần vải phía trên sẽ bám sát vào cánh tay còn phía dưới sẽ chảy xuống.
* Phương pháp phác hoạ
+ Phác hoạ đúng tư thế vận động của cánh tay
+ Phủ lên cánh tay phần vải của tay áo, chú ý tới các nếp xếp, nếp gấp, những phần vải căng ra hay chun lại ở các vị trí khác nhau. Tuỳ theo chất liệu vải dày mỏng, mềm hay cứng mà phác thành các nếp tròn hay hình tam giác... cần quan sát kỹ để phác cho đúng.
23 2.4. Phương pháp phác hoạ mẫu trang phục
2.4.1. Phác hoạ theo phương pháp vẽ tĩnh vật
Là phương pháp quy toàn bộ hình dáng, tư thế vận động( đứng, ngồi, chạy nhảy..) của người mẫu vào trong một khung hình hoạ. Tìm kích thước tổng quát( khung hình chung) theo chiều cao và chiều rộng sau đó tìm kích thước thành phần của từng bộ phận. Trong quá trình vẽ phải vẽ từ bao quát đến chi tiết, vẽ nết chính trước, nét phụ sau rồi nâng dần bài vẽ lên thành tổng thể hoàn chỉnh.
Phương pháp này giúp ta phác hoạ được nhiều tư thế vận động theo mình chọn nhưng phả có người mẫu và mất nhiều thời gian.
2.4.2. Phác hoạ theo phương pháp tỷ lệ
Là phương pháp vẽ người mẫu dựa trên định chuẩn và tỷ lệ giữa các bộ phận trên cơ thể so với định chuẩn( Chiều cao đầu) đồng thời kết hợp với phương pháp phác hoạ các bộ phận để phác hoạ người mẫu theo ý muốn. Phương pháp này phác hoạ nhanh, cân đối nhưng muốn phác hoạ được các tư thế vận động khác nhau thì phải quan sát người mẫu một cách tinh tế và chọn lọc.
2.4.3. Phác hoạ bằng phương pháp truyền thần
Là phương pháp dựa vào hình dáng, tư thế của một người mẫu nào đó trong sách báo, tạp chí thời trang, Catalo… để phác theo nhưng phải thay quần áo cho người mẫu. Phương pháp này có thể phóng to hay thu nhỏ dễ dàng, nhanh nhưng phải có nhiều tranh ảnh mẫu.
2.4.4. Phác hoạ trang phục lên người mẫu
Sau khi phác hoạ hoàn chỉnh người mẫu ở tư thế thích hợp ta phác hoạ mẫu quần áo lên cơ thể đó bằng cách:
- Vẽ đường bao của quần áo bên ngoài cơ thể bằng các nét mờ - Vẽ các nếp xếp, nếp gấp theo tư thế vận động và chất liệu - Vẽ cấu trúc của quần áo một cách chi tiết