Chương 1. Cơ sở lý luận về stress và stress trong học tập
1.2. Các quan điểm và công trình nghiên cứu stress của các nh à y học, tâm lý học Việt Namtâm lý học Việt Nam
Tô Như Khuê là người đầu tiên nghiên cứu stress ở Việt Nam d ưới góc độ sinh lý học và y học. Năm 1976 ông đã tiến hành nghiên cứu vấn đề
“Phòng chống trạng thái căng thẳng (stre ss) trong đời sống và lao động”. Là một người lính, Tô Như Khuê đã hết sức quan tâm đến các yếu tố tâm lý của việc tuyển dụng, huấn luyện và tăng cường sức chiến đấu cho bộ đội. Sau chiến tranh ông tâm nhiều hơn tới vấn đề stress trong huấn luyệncủa bộ đội ở các binh chủng đặc biệt và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc.
Theo ông stress là sự phản ứng của cơ thể đối với các tác nhân từ bên ngoài, nhằm thích nghi với môi trường luôn thayđổi.
Phạm Ngọc Giao và Nguyễn Hữu Nghiêm đã nghiên cứu stress trong đời sống xã hội và cho xuất bản tác phẩn “Stress trong thời đại văn minh”. Theo hai tác giả trên, stress là một hiện tượng tâm-sinh lý hết sức phức tạp ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả công việc và cuộc sống của con người. Con người có thể ứng phó có hiệu quả với stress bằng việc điều chỉnh lối sống và luyện tập các phương pháp giải toả stress [5, tr. 11].
Nguyễn Khắc Viện và Đặng Phương Kiệt là những người nghiên cứu stress theo hướng tiếp cận Tâm lý lâm sàng. Các nghiên cứu của họ được thực hiện trên trẻ em vào những năm 1990. Kết quả các công trình nghiên cứu của hai tác giả trên được tập hợp và xuất bản thành các bài giảng tại Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em (NT) và tác phẩm “Tâm lý học và đời sống’’. Đặng Phương Kiệt là người có nhiều tâm huyết trong việc nghiên cứu, phổ biến tri thức về stress và cách thức ứng phó với stress ở Việt Nam.
Ông cùng đồng nghiệp đã cho xuất bản bốn ấn phẩm về stress và cách phòng chống stress. Thứ nhất “Chung sống với stress” (2003); thứ hai “Stress và đời sống” (2003); thứ ba “Stress và sức khoẻ” (2003); thứ tư “Phòng chống
động vào hệ thống tạo ra sự căng thẳng hay làm sai lệch hệ thống, hoặc làm hỏng hệ thống đó nếu nó quá mạnh”. Như vậy, ông hiểu stress rất rộng nó liên quan tới toàn bộ hoạt động vàứng xử của con người trong cuộc sống.
Năm 1997, Hội nghị khoa học về “Những rối loạn có li ên quan đến stress ở trẻ em và thanh thiếu niên” đã được tổ chức tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai. Hội nghị đã có sự tham gia của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau. Các tham luận đã mô tả vấn đề stress ở trẻ em và thanh thiếu niên, coi đó là vấn đề hết sức nóng hổi. Trong hội thảo này đã có một số tham luận đề cập đến stress ở sinh viên các trường đại học.
Nguyễn Thu Hà và đồng nghiệp (Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường) đã nghiên cứu đề tài “Điều tra stress nghề nghiệp ở nhân viên y tế”
(2006). Tác giả đã điều tra trên 527 nhân viên y tế của bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Phụ Sản và Bệnh viện Hữu Nghị bằng các công cụ như: đánh giá mức độ stress theo điểm (d ành cho người châu Á), trắc nghiệm lo âu của Zung, trắc nghiệm trầm cảm của Beck và điều tra bằng bảng hỏi. Kết quả điều tra cho thấy; 8.4 % bị stress ở mức cao; 33 % bị stress ở mức trung bình và 58.6 % ở mức độ thấp. Theo kết quả nghiên cứu một số yếu tố từ môi trường làm việc gây stress nghề nghiệp là: công việc quá tải, cường độ làm việc lớn, thời gian làm việc kéo dài, tính trách nhiệm công việc cao, sự căng thẳng khi tiếp xúc với bệnh nhân v à người nhà của họ [2 tr. 213].
Đặng Viết Lương và đồng nghiệp (Viện Y học Lao động và Vệ sinh môi trường) đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đánh giá trạng thái stress của nhân viên vận hành ngành điện lực” (2006). Tác giả đã nghiên cứu trên 184 khách thể với sự hỗ trợ của các phương tiện đo chỉ số tâm-sinh lý như:
thời gian phản xạ (thị giác, thính giác, xúc giác…), trí nhớ, nhịp tim, huyết áp và các trắc nghiệm đánh giá trạng thái trầm cảm và lo âu. Kết quả cho
thấy stress của nhân viên vận hành ngành điện lực biểu hiện qua các triệu chứng sau: tâm trạng căng thẳng; rối loạn thần kinh thực vật; giảm trí nhớ;
tăng huyết áp. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy: có 61 % chức năng hệ tim mạch không ổn định; 44 % biểu hiện trạng thái căng thẳng và rối loạn hệ thần kinh thực vật; 26 % tăng huyết áp. Các yếu tố ảnh h ưởng tới stress là:
mức độ tiếng ồn, điện trường nơi làm việc cao, thiếu không khí trong sạch nơi làm việc, yêu cầu công việc cao (tập trung chú ý, ra quyết định nhanh, thao tác thận trọng, chính xác).
Nguyễn Thành Khải (2001) đã nghiên cứu stress của cán bộ quản lý ở một số cơ quan và tổ chức chính quyền địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy: phần lớn (99,41%) cán bộ quản lý đều bị stress công việc, trong đó có 15,94% ở mức độ nặng (rất căng thẳng) và 83.47 % mức độ vừa (căng thẳng). Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra nguyên nhân stress của cán bộ quản lý là: công việc căng thẳng, mâu thuẫn trong quan hệ “dọc” và “ngang”, nội bộ mất đoàn kết, môi trường làm việc không thụân lợi.
Các công trình nghiên cứu stress ở học sinh, sinh viên là hướng nghiên cứu thứ hai về stress ở Vi ệt Nam. Trong hướng nghiên cứu này nổi bật lên các công trình nghiên cứu của các tác giả sau. Nguyễn Mai Anh “Nghiên cứu ảnh hưởng của stress tới sinh viên trong hoạt động học tập” (2001).
Nghiên cứu này đã chỉ rõ stress đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng bài thi của sinh viên. Nguyên nhân của hiện tượng này là do stress đã ảnh hưởng trực tiếp tới tư duy học tập và hậu quả là sinh viên có mức độ stress càng cao thì kết quả bài thi càng kém. Phạm Thanh Bình nghiên cứu “Biểu hiện stress trong học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông Yên Mô Ninh Bình” (2005) với khách thể là 150 học sinh của trường. Tác giả đã sử dụng
điều tra nguyên nhân stress và thực nghiệm can thiệp nhằm làm giảm stress trong học tập. Kết quả của nghiên cứu cho thấy: học sinh nữ có mức độ stress cao hơn ở học sinh nam (nữ 69.58 điểm, nam 65.12 điểm). Học sinh có học lực khá có mức độ stress cao h ơn học sinh có học lực trung bình và xu hướng mức độ stress tăng dầntừ năm lớp 10 đến năm lớp 12.
Lại Thế Luyện (2006) đã nghiên cứu đề tài “Biểu hiện stress của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh” với khách thể là 500 sinh viên hệ đại học chính quy của trường. Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là: điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu. Kết quả nghiên cứu cho thấy: có 10.8 % sinh viên rất căng thẳng (mức độ 1), 49.8 % sinh viên khácăng thẳng (mức độ 2), 33.8 % sinh viên ở mức độ nhẹ-ít căng thẳng (mức độ 3) và 5.6% không bị stress. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy;
sinh viên bị tress nặng biểu hiện những dấu hiệu sau: nét mặt căng thẳng;
chú ý bị phân tán, lãng phí thời gian, trì hoãn công việc, hiệu quả làm việc kém và kết quả học tập giảm sút. Theo tác giả nguyên nhân cơ bản gây ra stress ở sinh viên là: chương trình học tập căng thẳng và sức ép của kỳ thi quá lớn. Các biện pháp ứng phó mà sinh viên thường sử dụng để đối phó với stress trong học tập là tự điều chỉnh nhận thức [10 tr. 86].
Như vậy, stress đã được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm, nghiên cứu từ những năm bảy mươi cho đến hiện nay. Các nghiên cứu stress trong những năm 1970 phần lớn được tiếp cận dưới góc độ sinh lý học và y học nhằm phục vụ cho công tác huấn luyện bộ đội. Từ những năm 1980 trở lại đây vấn đề stress đã được nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều cách khác nhau như: sinh lý học, y học, tâm lý học, xã hội học. Khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì các công trình nghiên cứu stress ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và khách thể nghiên
cứu cũng ngày càng đa dạng hơn. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng ngày càng hiện đại, từ đo thời gian phản ứng một cách giản đơn, đến các phương pháp trắc nghiệm, thực nghiệm, nghiên cứu trường hợp và phỏng vấn sâu kết hợp với quan sát lâm sàng, làm cho kết quả nghiên cứu ngày càng trung thực, khách quan hơn. Nếu theo độ tuổi của khách thể nghiên cứu thì ở Việt Nam hiện nay có hai hướng nghiên cứu stress cơ bản sau: (1) nghiên cứu stress ở người trưởng thành (bộ đội, nhà quản lý, người laođộng...) và (2) nghiên cứu stress ở trẻ em và thanh thiếu niên.