Chương 1. Cơ sở lý luận về stress và stress trong học tập
5. Hoạt động học tập của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Đại học Quốc gia Hà Nội là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học chất lượng cao của cả nước. Phần lớn sinh viên được tuyển vào đây là những học sinh học giỏi, có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức vươn lên để trở thành những tri thức trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà.
Hoạt động học tập của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội có những đặc
®iÓm sau:
- Hoạt động học tập của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội mang tính chất đa ngành, đa lĩnh vực được thể hiện trong tính đ a dạng của chuyên
ngành đào tạo đũi hỏi sinh viên có cách thức, phương pháp học tập phù hợp với tính chất của chuyên ngành mà các em đang theo học.
- Hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động nhận thức diễn ra trờn cơ sở quan hệ thày-trò với sự chỉ đạo, hướng dẫn của người thày , nhằm phát triển tư duy năng động, sáng tạo của sinh viên. Việc chuyển đổi chương trình
đào tạo từ niên chế sang đào tạo theo tín chỉ (năm 2008 ), là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy tính năng động, sáng tạo của s inh viên. Trong đào tạo tín chỉ người thày chuyển từ vai trò truyền đạt kiến thức sang vai trò hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập, đồng thời giành nhiều thời gian cho sinh viờn tự học, tự chuẩn bị ở nhà.
- Đối tượng hoạt động học tập của sinh viên là tri thức chuyên ngành và kỹ năng nghề nghiên cứu khoa học, nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho sinh viên. Hoạt động học tập yêu cầu có sự kết hợp giữa học với hành, giữa lý thuyết với thực tế nhằm trang bị cho sinh viên năng lực giải quyết các nhu cầu thực tiễn đặt ra. Tr ong quá trình học tập sinh viên được làm việc trong các phòng thí nghiệm, đi thực tập thực tế nhằm làm quen với các công việc, nắm bắt các nhu cầu thực tế, tích luỹ kinh nghiệm và hình thành kỹ năng nghề.
- Hoạt động học tập của sinh viên mang tính cá nhân, đũ hỏi tính độc lập, ý chí, quyết tâm cao đồng thời tự giỏc học hỏi, bồi dưỡng, rèn luyện, làm việc với cường độ cao mới có thể tiếp thu được các tri thức, kỹ năng nghề nghiệp. Để hoàn thành tốt chương trình đào tạo trong quá trình học tập, sinh viên cần tự xác định mục đích, động cơ học tập cho mình v à lập kế hoạch cụ thể cho từng môn học.
- Hoạt động học tập của sinh viên luôn gắn liền với hoạt động nghiên cứu khoa học, nhằm giúp sinh viên có những kỹ năng phát hiện , giải quyết vấn đề trong hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường. Hoạt động nghiên cứu khoa
học còn góp phần rèn luyện c ác phẩm chất nhân cách như: thỏi độ nghề nghiệp, định hướng giỏ trị và nănglực nghề nghiệpcủa sinh viên.
- Hoạt động học tập của sinh viên trong nhà trường còn gắn liền với các hoạt động chính trị xã hội như: phong trào tình nguyện, hoạt động hướng tới các ngày lễ lớn của dân tộc, hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Thông qua các hoạt
động này đó giáo dục đạo đức, truyền thống cỏch mạng, tình yêu đất nước, con người Việt Nam. Cỏc hoạt động chớnh trị xó hội cũn giúp cho sinh viên mở rộng, vận dụng kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế và rèn luyện các phẩm chất chính trị-tư tưởng đạo đức cho họ.
- Hiệu quả và chất lượng hoạt động học tập của sinh viên không chỉ phụ thuộc vào nội dung, quá trình tổ chức, phương pháp giảng dạy của giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, mà còn phụ thuộc vào những
đặc điểm tâm-sinh lý và tâm lý của họ (nhu cầu, động cơ, tình cảm, thái độ, niềm tin, thái độ, định hướng giá trị).
- Động cơ hoạt động học tập của sinh viên tương đối phong phú, đa dạng, tuy nhiên có thể phân ra thành 5 loại sau: động cơ xã hội; động cơ nhận thức khoa học; động cơ nghề nghiệp; động cơ tự khẳng định và động cơ cá nhân, trong đó động cơ nghề nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Cá c công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học gần đây đó cho thấy; trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các động cơ cá nhân của sinh viên ngày càng có chiều hướng biểu hiện rõ nét.