QUAN SÁT HÌNH THÁI VÀ GIẢI PHẪU LỚP CHIM

Một phần của tài liệu Bài giảng Thực hành sinh học đại cương (Trang 40 - 47)

MỤC TIÊU

Sau khi học xong bài này, SV phải:

- Mô tả được hình thái bên ngoài của gà đại diện cho lớp chim.

- Giải phẫu đúng kỹ thuật mẫu vật là gà để quan sát nội quan bên trong.

- Nhận biết được các cơ quan thuộc các hệ cơ quan trong cơ thể của gà (hệ tiêu hóa, tuần hoàn, hô hấp, sinh dục, bài tiết, …)

- Nêu được chức năng của 1 số cơ quan chính trong cơ thể của gà.

- Nêu được đặc điểm tiến hóa của lớp chim so với các lớp đã giải phẫu.

I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1. Hình dạng thái ngoài của gà

Cơ thể Gà chia làm năm phần là đầu, cổ, thân, đuôi và chi. Toàn bộ cơ thể (trừ mỏ và phần dưới của chân) được phủ lông vũ tạo nên hình dạng ngoài của chim.

Hình 15: Hình thái ngoài mt gà trng

- Mỏ hình thành do sự kéo dài của xương hàm, có cấu tạo sừng bọc lấy phần trước của hàm. Phần dưới của mỏ do xương răng kéo dài.

- Mũi hình khe mở ra ở gốc của da gốc mỏ. Trong lỗ mũi là xoang mũi thông với xoang miệng nhờ lỗ mũi trong hình khe rất hẹp.

- Hai bên đầu có hai mắt lớn.

- Phía dưới và sau mắt là lỗ tai tròn và ống tai ngoài. Phía ngoài lỗ tai có phủ một lớp lông thưa.

41

- Phần sau cơ thể có phao câu, mặt trên có đôi tuyến phao câu. Tuyến này rất phát triển đối với các loài chim ở nước vì chúng dùngđẻ chải bộ lông cho lông không thấm nước.

- Đùi và ống chân Gà có phần cổ bàn phức tạp (giò) và các ngón chân không phủ lông mà phủ vảy sừng như bòsát. Đầu mút các ngón chân có móng sừng. Chân gà thường bốn ngón.

Ngón I hướng về sau, các ngón hướng từ trong ra theo thứ tự là II, III, IV.

2. Cấu tạo giải phẫu bên trong a. Hệ tuần hoàn

+ Tim lớn, nằm giữa xoang ngực, có xoang bao tim bao quanh. Dùng kéo cắt bỏ màng xoang này để quan sát tim. Tim hình chóp, đỉnh hướng về phía sau. Ngang tim có dãy mỡ

ở bên ngoài chia tim làm hai phần: phần trên là 2 tâm nhĩ, phần dưới là 2 tâm thất. Tâm nhĩ có thành mỏng, màu sẫm. Thường tâm nhĩ phải căng hơn tâm nhĩ trái. Tâm thất màng dày hơn và sáng hơn tâm nhĩ, nằm xen giữa các thuỳ gan.

+ Hệ mạch: Từ tâm thất phải phát ra động mạch phổi chia hai nhánh đưa máu tĩnh mạch vào phổi. Máu tĩnh mạch đã được oxi hoá ở phổi trở về tim nhờ các tĩnh mạch phổi đổ vào tâm nhĩ trái. Từ tâm thất trái phát ra cung chủ động mạch đi ra khỏi tim vòng về bên phải, sau đó chạy dọc cột sống và phát ra nhiều nhánh động mạch đi nuôi cơ thể.

c. Cơ quan hô hấp

+ Lỗ mũi ngoài nằm ở gốc mỏ chim dẫn vào lỗ mũi trong mở ra ở vòm miệng. Tiếp đến là khe thanh quản là đỉnh của thanh quản, rồi sau đó đến khí quản là một ống dài dọc suốt chiều dài của cổ. Khí quản gồm một số vòng sụn nâng đỡ, đoạn cuối chia đôi thành hai phếquản dẫn đến hai lá phổi. Ngã ba hai phếquản và khí quản là minh quản là cơ quan phát thanh của chim. Các loài chim hót hay và có tiếng kêu to có minh quản rất phát triển.

+ Phổi: không lớn, nằm dính sát vào thành lưng.

+ Túi khí là những màng mỏng len lỏi giữa các nội quan, cơ dưới da và khe hổng trong xương. Túi khí có tác dụng làm giảm tỷ trọng của chim, chứa khí để giúp chim hô hấp kép (khi chim bay), phát tiếng kêu khi chuyển khí qua hệ minh quản và điều hoà nhiệt độ.

d. Cơ quan tiêu hoá

Ống tiêu hóa bắt đầu là xoang miệng. Trong xoang miệng có lưỡi. Sau gốc lưỡi là khe thanh quản thuộc cơ quan hô hấp. Sau khe thanh quản là thực quản hình ống dài có thành mỏng, có khả năng co giãn, nằm dưới da dọc theo cổ. Phần cuối thực quản phình rộng thành diều. Diều là nơi tích trữ thức ăn tạm thời, làm mềm thức ăn nhờ nước bọt và chất nhầy do tuyến diều tiết ra, do vậy có tiêu hoá một phần thức ăn. Sau diều còn một đoạn ngắn nữa rồi chuyển sang dạ dày. Dạ dày gồm hai phần là dạ dày cơ (mề gà) và dạ dày tuyến. Dạ dày tuyến có thành mềm có nhiều tuyến tiêu hoá. Dạ dày cơ có thành cơ dày và chắc bên trong có lót màng kitin. Đối với chim ăn hạt, trong dạ dày cơ thường có nhiều hạt sạn để tăng ma sát khi nghiền thức ăn.

42

Sau dạ dày là đến ruột non uốn khúc và được treo vào thành lưng của xoang cơ thể nhờ màng treo ruột. Ruột non chuyển sang ruột già ngắn, cuối cùng đổ ra huyệt. Ranh giới giữa ruột già là đôi ruột tịt là đôi ống ngắn. Kích thước ruột tịt ở các loài chim là rất khác nhau. Đa số chim bay không hình thành ruột thẳng hay trực tràng nên phân được thải liên tục cũng là một thích nghi giảm nhẹ cơ thể trong khi bay của chim.

Tuyến tụy màu vàng nâu nhạt, có ba ống dẫn đổ chất tiêt vào ruột tá. Gan màu thẫm, thuỳ gan phải lớn hơn thuỳ gan trái. Bồ câu không có túi mật. Các loài chim khác túi mật phát triển. Mật từ gan theo hai ống dẫn mật đổ vào hai đầu ruột tá. Tì tạng nằm ở gần dạ dày tuyến là khối màu thẫm.

Hình 16: H tiêu hóa e. Cơ quan niệu sinh dục

+ Thận là hậu thận chia ba thuỳ nằm trong hốc xương chậu, sát thành lưng con vật.

Ống dẫn niệu rất nhỏ chạy song song, rồi đổ ra huyệt. Tuyến trên thận có màu vàng nằm ở bờ trong đầu thận. Gà không có bóng đái để giảm nhẹ cơ thể thích nghi với đời sống bay.

+ Gà trống có một đôi tinh hoàn là hai khối hình bầu dục màu trắng dục nằm ở phần bụng phần trước của thận. Từ mỗi tinh hoàn phát ra một ống dẫn tinh tương ứng với ống wolff chạy song song với ống dẫn niệu, cuối phình rộng thành túi tinh thông ra huyệt.

+ Gà mái chỉ có một buồng trứng trái. Thời kì sinh sản buồng trứng rất phát triển và chứa nhiều noãn hoàng. Ống dẫn trứng tương ứng với ống Muller, đầu mở rộng thành phễu

43

ở gần mép buồng trứng, ở cuối phình rộng thành tử cung rồi đổ ra huyệt. Mùa sinh sản, ống này rất phát triển và dài ra, phễu mở rộng để đón trứng. Ngoài mùa sinh sản, ống dẩn trứng bé và nằm sát thành lưng xoang bụng.

II. NỘI DUNG THỰC HÀNH 1. Mẫu vật và dụng cụ

STT Mẫu vật và dụng cụ Đơn vị tính Số lượng

1 Gà ta Kg 4,5

2 Bộ đồ mổ Bộ 3

3 Khay mổ Cái 3

4 Bông thấm Bịch -

5 Nước rửa chén, nước rửa tay Chai - 2. Cách tiến hành

- Quan sát hình thái bên ngoài của đối tượng là gà ta.

- Tiến hành giải phẫu:

+ Mẫu vật đã làm chết và bỏ hết lông, để mẫu vật nằm ngửa trên khay mổ, dùng kẹp nâng da phía trên huyệt rồi dùng kéo cắt một vệt nhỏ, luồn kéo vào vết cắt, nâng da lên và cắt da theo đường thẳng chính giữa bụng từ huyệt đến gốc hàm dưới. Lột da sang hai bên, cắt bỏ toàn bộ phần da bụng, ngực, sườn lên đến cuối hàm, sau đó cắt đến cơ.

+ Từ trước lỗ huyệt dùng kéo cắt cơ vòng sang hai bên sườn, cắt hết phần cơ bụng, sau đó cắt cả hai bên xương sườn lên đến nách. Nâng ngực lên, tìm các mạch máu ra chi để tránh, luồn kéo cắt đứt xương quạ, vòng lên cắt đứt xương đòn, tháo bỏ khối cơ ngực (phần ức) để lộ xoang bụng.

III. YÊU CẦU

 Quan sát hình dạng ngoài và các phần cơ thể gồm:

+ Đầu: hình dạng đầu, mỏ, mắt, màng nháy, lỗ mũi, lỗ ống tai ngoài, miệng, lưỡi…

+ Cổ và thân, chi trên, chi dưới.

+ Đuôi: tuyến phao câu, huyệt.

+ Lông vũ: cấu tạo các loại lông.

 Mổ đúng kỹ thuật, đẹp, thành thạo.

 Quan sát vị trí tự nhiên của các cơ quan bên trong của gà ta.

 Tìm và quan sát các cơ quan bên trong của các hệ cơ quan của gà ta theo gợi ý sau:

+ Hệ tiêu hóa: Xoang miệng, hầu, thực quản, diều, dạ dày, ruột, các tuyến tiêu hóa.

+ Hệ hô hấp: Mũi, khí quản, thanh quản, phếquản, phổi, hệ thống túi khí.

+ Hệ tuần hoàn: Tim, động mạch và tĩnh mạch lớn.

+ Hệ bài tiết: Thận, ống dẫn niệu.

44

+ Hệ sinh dục: Tuyến và ống dẫn sinh dục.

+ Hệ thần kinh: Các giác quan (mắt, mũi, tai).

 Tìm hiểu chức năng của 1 số cơ quan chính. Phân tích đặc điểm tiến hóa của lớp chim so với các lớp động vật đã giải phẫu trước đó.

 Vẽ lại hình ảnh: hình thái bên ngoài, cách giải phẫu, các cơ quan bên trong của gà ta.

45

Bài thu hoạch số 10: QUAN SÁT VÀ GIẢI PHẪU LỚP CHIM

1. Quan sát và vẽ hình thái ngoài của Gà

46

2.Vẽ các cơ quan thuộc các hệ cơ quan trong cơ thể của Gà: hệ tiêu hóa, tuần hoàn,

hô hấp, sinh dục, bài tiết,…

Nhận xét của GVHD Chữ ký của GVHD Sinh viên

47

Một phần của tài liệu Bài giảng Thực hành sinh học đại cương (Trang 40 - 47)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(51 trang)