CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT TẠI TẬP ĐOÀN XĂNG DẦU VIỆT NAM (PETROLIMEX)
2.1. Tổng quan về Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và các nhân tố ảnh hưởng đến lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất tại Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex)
2.1.2.1. Nhân tố bên ngoài thuộc môi trường kinh doanh a. Môi trường kinh tế, chính trị
Sự phát triển của kế toán là một quá trình phụ thuộc và đan xen với sự phát triển của nền kinh tế. Một nền kinh tế phát triển đòi hỏi công cụ kế toán hữu hiệu nhằm tạo niềm tin cho giao dịch và sử dụng vốn hiệu quả. Các nhân tố chủ yếu của nền kinh tế ảnh hưởng đến hệ thống kế toán và BCTC bao gồm: đặc điểm và giai đoạn phát triển của nền kinh tế, nguồn cung ứng tài chính và lạm phát.
Các yếu tố đặc trưng của nền kinh tế, như cơ chế quản lý, hình thức sở hữu vốn, định hướng phát triển, đặc điểm sản xuất kinh doanh của Tập đoàn, quy mô, đặc điểm của thị trường hàng hoá....tác động nhiều đến chính sách kế toán và đối tượng kế toán của Tập đoàn qua từng thời kỳ phát triển, nhằm đáp ứng yêu cầu ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán đối với các đối tượng sử dụng thông tin.
Khi TTCK phát triển, việc Tập đoàn niêm yết trên thị trường chứng khoán đã ảnh hưởng đến các chính sách kế toán của Tập đoàn, như phát sinh các giao dịch mua bán, phát hành, chuyển đổi cổ phiếu, trái phiếu, hình thành nhiều đối tượng hình thức giao dịch mới phát sinh cần được kế toán đo lường, ghi nhận và trình bày trên BCTC để phục vụ cho nhu cầu thông tin dự báo của các nhà đầu tư...
Nguồn cung ứng tài chính sẽ quyết định đối tượng chủ yếu sử dụng thông tin tài chính do vậy quyết định đặc điểm của thông tin tài chính được cung cấp. Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, đây là nơi cung cấp vốn chủ yếu cho doanh nghiệp, nên yêu cầu đối với thông tin tài chính cần đảm bảo trình bày trung thực, hợp lý và đầy đủ. Sự đầy đủ của thông tin tài chính giúp nhà đầu tư có thể dựa vào BCTC để đưa ra các quyết định kinh tế.
Lạm phát cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các chính sách kế toán của công ty.
Lạm phát cao kéo dài có thể ảnh hưởng và ảnh hưởng luỹ kế của nó qua nhiều năm có thể làm cho thông tin kế toán trở nên vô nghĩa nếu không được điều chỉnh cho
thích hợp. Đối với việc làm phát cao kéo dài, khái niệm bảo toàn vốn trở nên quan trọng và một số biện pháp kế toán cần được sử dụng để loại trừ ảnh hưởng của biến đổi giá đến BCTC.
Nhân tố chính trị, hệ thống chính trị xác định cơ chế kinh tế của một quốc gia và vì vậy chúng ảnh hưởng đến việc xác định mô hình kế toán. Một hệ thống kế toán có ích cho nền kinh tế quản lý tập trung khác với hệ thống kế toán tối ưu cho nền kinh tế thị trường. Nhân tố này còn được đề cập dưới dạng các thể chế chính trị trong đó nhà nước can thiệp nhiều hay ít vào nền kinh tế.
Đối với công ty được chuyển đổi, cổ phần hoá từ công ty nhà nước như Tập đoàn Petrolimex, hiện tại nhà nước vẫn nắm giữ 75,9% cổ phần nên một số chính sách của công ty vẫn chịu ảnh hưởng và kiểm soát như các công ty nhà nước, ví dụ như quy định về mức trần lương, nghĩa vụ quân sự ....Hệ thống chính trị gắn liền với an ninh quốc phòng, ổn định và công bằng giữa các thành phần kinh tế cũng ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của tập đoàn. Hệ thống chính trị cũng phát triển ra bên ngoài và du nhập các chuẩn mực và thông lệ kế toán, để gần hơn với các thông lệ chuẩn mực kế toán quốc tế trong tiến trình hòa nhập vào nền kinh tế thế giới cũng ảnh hưởng tới việc lập và trình bày BCTCHN nói riêng và BCTC nói chung.
b. Môi trường pháp luật, chính sách nhà nước
Môi trường pháp lý có tác động mạnh mẽ đến hệ thống kế toán và BCTC tại các quốc gia. Các nhân tố chủ yếu của môi trường pháp lý tác động đến hệ thống kế toán bao gồm: hệ thống pháp luật, vai trò của nhà nước, tổ chức nghề nghiệp và pháp luật về thuế.
Tại Việt Nam, cơ sở, nguyên tắc kế toán được quy chiếu vào chế độ kế toán quốc giá, Nhà nước có vai trò kiểm soát kế toán về phương pháp đo lường, đánh giá, soạn thảo và trình bày báo cáo bao gồm cả phương pháp ghi chép số liệu, phương pháp lập và trình bày BCTC.
Pháp luật về thuế cũng ảnh hưởng đáng kể đến việc lập và trình bày BCTC. ở Việt Nam, tồn tại mối liên hệ nhất định giữa BCTC và báo cáo thuế, điều này có thể làm cho nhà đầu tư có thái độ thiếu dứt khoát khi sử dụng thông tin trên BCTC.
Lập BCTC chuẩn xác, minh bạch có ý nghĩa không chỉ trong xây dựng uy tín
doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh và điều hành doanh nghiệp. Có thể nói hệ thống chuẩn mực kế toán VN và các thông tư hướng dẫn là kim chỉ nam cho việc lập BCTCHN tại Tập đoàn. Thước đo để đánh giá BCTCHN mà đơn vị lập ra có đúng đắn, minh bạch, trung thực, hợp lý phản ánh đúng tình hình tài chính của DN hay không chính là các chuẩn mực kế toán, chế độ tài chính kế toán mà nhà nước ban hành. Vì vậy các DN rất cần dựa vào chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán và hướng dẫn để tìm ra phương pháp thích hợp để phục vụ cho mục đích lập BCTCHN.
2.1.2.2. Nhân tố bên trong doanh nghiệp
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam có ngành nghề kinh doanh chính là phân phối và bán lẻ xăng dầu, đề ra kế hoạch tái cơ cấu mô hình kinh doanh tập trung vào phân phối và bán lẻ (chính) và 3 ngành phụ trợ (vận tải, sản phẩm hóa dầu và khí đốt). Chiến lược dài hạn của Petrolimex là lấy kinh doanh xăng dầu làm trục chính và mở ra các lĩnh vực kinh doanh có quan hệ mật thiết với kinh doanh xăng dầu, chứ không đầu tư dàn trải cho dù lĩnh vực đó mang lại lợi nhuận cao trong ngắn hạn. Như vậy việc hoạt động SXKD với định hướng phát triển sản phẩm theo chiến lược đề ra sẽ tạo ra các giao dịch nội bộ giữa các công ty con hay giữa công ty mẹ với các công ty con ngày càng nhiều. Các dạng giao dịch nội bộ giữa các đơn vị trong Tập đoàn cũng rất đa dạng và phong phú như các giao dịch nội bộ bán hàng tồn kho, bán TSCĐ, bán hàng tồn kho chuyển thành TSCĐ… Bởi vậy vấn đề loại trừ doanh thu, giá vốn hàng bán nội bộ, lãi nội bộ và loại trừ lãi nội bộ chưa thực hiện tại Tập đoàn ngày càng phức tạp.
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam hiện nay hoạt động cả ở trong nước với phạm vi rộng khắp từ Bắc vào Nam, bên cạnh đó còn mở rộng kinh doanh ra thị trường khu vực và thế giới như đầu tư vào Singapore và Lào, khởi đầu cho hình thành Tập đoàn xuyên quốc gia. Với việc mở rộng thị trường hoạt động của Tập đoàn ra nước ngoài sẽ khiến nảy sinh việc chuyển đổi BCTC của công ty con ra nước ngoài hay xử lý tỷ giá hối đoái khi lập BCTCHN. Cùng với đó, hoạt động kinh doanh trên nhiều khu vực khác nhau sẽ tác động không nhỏ đến việc lập BCTC bộ phận thứ yếu theo khu
vực theo yêu cầu của chuẩn mực 28 “Báo cáo tài chính bộ phận”.
Bên cạnh việc hoạt động trong lĩnh vực xăng dầu, dầu mỡ nhờn và các sản phẩm hóa dầu, khí hóa lỏng và vận tải xăng dầu; Tập đoàn cũng hoạt động ở nhiều ngành nghề có liên quan như thiết kế, xây lắp, cơ khí và thiết bị xăng dầu, bảo hiểm, ngân hàng… Việc hoạt động đa ngành nghề đòi hỏi khi lập BCTCHN Tập đoàn cũng cần chú trọng trong công tác lập BCTC bộ phận chính yếu theo lĩnh vực hoạt động, nhằm cung cấp thông tin đầy đủ hơn cho các đối tượng quan tâm.
Hiện nay Tập đoàn đang thực hiện đề án tái cấu trúc đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của các quy định hiện hành về hoạt động đầu tư góp vốn vào lĩnh vực Bảo hiểm và Ngân hàng tại nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 và nghị định số 32/2018/NĐ-CP về Đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp và Quản lý, Sử dụng vốn, tài sản doanh nghiệp. Trong số các công ty con, công ty liên kết của Tập đoàn có một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm là Tập đoàn Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (“PJICO”) và một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng là Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (“PGBank”), hiện tập đoàn đang có kế hoạch thoái vốn tại hai đơn vị này. Như vậy việc thoái vốn tại công ty con, trong trường hợp không làm mất quyền kiểm soát, phải có nhưng ghi nhận đúng quy định về lợi ích của CĐTS; và nếu việc thoái vốn làm công ty mẹ mất quyền kiểm soát thì cũng cần có các bút toán ngừng hợp nhất đối với công ty con bị thoái vốn và ghi nhận lãi lỗ từ việc thoái vốn khi lập BCTCHN.
Do công ty có quy mô lớn với 55 công ty con và 11 công ty liên doanh liên kết nên các giao dịch nội bộ diễn ra thường xuyên, khối lượng công việc đối chiếu, loại trừ giao dịch nội bộ để hợp nhất BCTC nhiều, do vậy cũng gây khó khăn cho quá trình xử lý số liệu hợp nhất.
Nhân tố con người có ảnh hưởng lớn đến công tác lập và trình bày BCTCHN.
Phòng kế toán Tập đoàn có 18 người, chia thành các ban, 18/18 có trình độ đại học trở lên, tuy nhiên bộ phận hợp nhất của công ty chỉ có 1 người làm nhiệm vụ tổng hợp, xử lý và lên BCTCHN. Xét về trình độ, nguồn lực này về cơ bản đảm bảo cho
việc vận hành công tác kế toán tài chính tại Tập đoàn.
Về việc sử dụng phần mềm kế toán: Phòng kế toán Tập đoàn và các công ty thành viên đều sử dụng phần mềm kế toán để phục vụ hạch toán kế toán, việc ứng dụng phần mềm đã giúp giảm thiểu khối lượng công việc đáng kể cho phòng kế toán. Tuy nhiên, việc đối chiếu số liệu giữa công ty mẹ và các công ty con vẫn đang thực hiện theo phương pháp đối chiếu thủ công qua việc in sổ để so sánh, không tránh khỏi việc bỏ sót hay sai lệch số liệu, điều này ảnh hưởng đến công tác thu nhận và kiểm tra thông tin phục vụ lập BCTCHN của Tập đoàn.