CHƯƠNG 6 PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC THI ĐẤU BÓNG CHUYỀN
IV. HỆ THỐNG TỔ CHỨC THI ĐẤU MỘT GIẢI
2. Thi đấu vòng tròn
1. Ưu nhược điểm:
Ưu điểm: Đây là hệ thống thi đấu hợp lý nhất, vì các đội đều lần lượt gặp nhau, nên đánh giá được đúng thực chất của các đội và xếp loại được chính xác.
Nhược điểm: Tốn thời gian và đòi hỏi phải có nhiều sân bãi, dụng cụ. Mặt khác cũng phải rút thăm và phân loại được chính xác.
2.2. Nguyên tắc thi đấu:
Mỗi đội đều lần lượt tham gia thi đấu với tất cả các đội khác cuối cùng đội nào nhiều điểm nhất đội đó vô địch.
2.3. Trường hợp vận dụng:
- Số đội tham gia thi đấu ít.
- Thời gian tổ chức thi đấu rộng rãi có thể kéo dài.
- Đánh giá đúng thực chất và khả năng của các đội.
2.4. Quy cách tính điểm:
- Đối với các môn thi đấu tính điểm thắng trước (bóng chuyền, bóng bàn…).
- Thắng 2 điểm.
- Thua 1 điểm - Bỏ cuộc 0 điểm
- Kết thúc giải, nếu cộng số điểm trên mà hai hay nhiều đội bằng điểm nhau tức số trận thắng, thua ngang nhau thì phải tính tổng số hiệp thắng, nhưng trường hợp tổng số hiệp thắng bằng nhau thì lại phải tính đến tỷ số giữa tổng số hiệp thắng/thua đội nào có tỷ số thắng/thua cao hơn thì đội đó xếp trên.
Nếu như tỷ số hiệp thắng/thua bằng nhau thì phải tính tỷ số giữa tổng số pha bóng thắng/pha bóng thua.
2.4.1. Thi đấu vòng tròn đơn:
Cách tính số trận và vòng đấu:
- Tính số trận theo công thức:
- Tính vòng đấu theo công thức:
D: là tổng số vòng đấu D = A - 1 (nếu số đội là một số chẵn)
D = A (nếu số đội là một số lẻ)
Ví dụ: có 6 đội tham gia thi đấu thì:
Tổng số trận: trận
Số vòng thi đấu: D = 6 - 1 = 5 vòng
Ví dụ: có 9 đội tham gia thi đấu:
Tổng số trận: trận
Số vòng thi đấu: D = 9 vòng
- Cách vạch biểu đồ xác định thứ tự trận đấu:
- Trường hợp số đội tham gia thi đấu là số chẵn:
Ví dụ: 6 đội tham gia Biểu đồ thi đấu như sau:
Cách làm:
- Xác định số vòng tròn treo công thức D = A - 1
- Cho các đội bắt thăm chọn số, lấy 1 số cố định và lần lượt đặt các số khác ngược chiều với chiều kim đồng hồ cho hết lượt.
+ Trường hợp số đội là một số lẻ.
Ví dụ: có đội tham gia thi đấu.
Biểu đồ thi đấu như sau:
Cách làm:
- Xác định số vòng theo công thức D = A
- Cho số đội bắt thăm chọn số của đội mình và vạch 5 vòng đấu lấy (X) làm số cố định và lần lượt đặt các số theo thứ tự ngược chiều kim đồng hồ từ phía dưới số cố định (X) như cách lập biểu đồ với số đội tham gia là một số chẵn đội nào gặp (X) thì nghỉ vòng đó.
2.4.2. Thi đấu vòng tròn chia bảng:
Trường hợp số đội tham gia thi đấu đông nhưng ít thời gian thì dùng hình thức là đấu vòng tròn chia bảng.
Thứ tự tổ chức như sau:
- Chia đều số đội tham gia vào nhiều bảng.
- Các đội cùng bắt thăm chọn số của đội mình, rồi lập biểu đồ thi đấu trong từng bảng: các đội cùng bảng thi đấu vòng tròn xếp thứ tự trong bảng.
Các đội đầu các bảng thi đấu vòng tròn với nhau chọn một đội vô địch.
Chú ý: Khi chia Ban tổ chức cuộc đấu nên dựa vào thành tích của các đội hoặc đấu thủ đã đạt được, chọn lấy một số đội khá để chia đều vào các bảng (hạt nhân) tránh dồn các đội khá vào cùng một bảng.
Câu hỏi ôn tập
1. Nêu phương pháp tổ chức thi đấu một giải bóng chuyền.
2. Nêu những hình thức tổ chức thi đấu môn bóng chuyền.
3. Ưu nhược điểm các hình thức tổ chức thi đấu bóng chuyền.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Bóng chuyền chính thức (2007), Ủy Ban TDTT.
CHƯƠNG 7
CHẤN THƯƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÒNG TRÁNH CHẤN THƯƠNG TRONG TẬP LUYỆN BÓNG CHUYỀN
Mục tiêu
Học xong chuyên đề này người học cần nắm được:
- Nguyên nhân xảy ra chấn thương và các dạng chấn thương.
- Biết cách phòng tránh và xử lý chấn thương trong tập luyện bóng chuyền.
THÔNG TIN CƠ BẢN
Chấn thương trong tập luyện và thi đấu thể thao là chỉ sự phát sinh mọi loại chấn thương trong quá trình vận động hoặc phát sinh do nhân tố thể dục thể thao gây nên, do vậy chấn thương thể dục thể thao khác với chấn thương mang tính chất nghành nghề khác. Sự phát sinh chấn thương trong TDTT thường có quan hệ chặt chẽ giáo viên giảng dạy thể thao, trình độ thể lực của người tập, động tác kỹ thuật thể thao, môi trường và điều kiện vận động ...
Một khi phát sinh chấn thương thì không chỉ làm cho người học giảm khối lượng tập luyện không thể học tập theo kế hoạch và ý đồ của người giảng dạy, vì vậy sẽ cản trở đến việc nâng cao hơn nữa thành tích và trình độ tập luyện của mình. Nếu tổn thương thể thao nghiêm trọng sẽ có thể dẫn tới có hại cho sức khoẻ và sự nghiệp sau này, thậm chí còn có thể dẫn tới sự cố tử vong không thể cứu vãn được.
Do vậy việc phòng chống chấn thương trong hoạt động TDTT có ý nghĩa hết sức quan trọng. Để giảng dạy tốt các môn thể thao người giáo viên TDTT cần phải nắm vững chấn thương học thể thao nắm vững các quy luật phát sinh chấn thương thể thao, đặc trưng, cách phòng chống chấn thương, trị liệu hồi sức khoẻ, cấp cứu và các tri thức, kỹ năng khác, nó có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, đồng thời có giá trị ứng dụng nhất định.
Cũng như các môn thể thao khác bóng chuyền là một môn thể thao đặc biệt với nhiều động tác tự nhiên đa dạng phong phú khác nhau như: đi, chạy, nhảy, lăn, ngã, các động tác tấn công và phòng thủ bóng...
Do đặc điểm của môn bóng chuyền là môn thể thao tập thể có tính chất đối kháng dán tiếp tương đối cao, nên dễ xảy ra chấn thương cho người tập. Theo thống kê các tài liệu, thì trong tập luyện và thi đấu các môn bóng thì môn bóng chuyền là môn có tỷ lệ chấn thương khá cao, đặc biệt là chấn thương khớp cổ chân, các khớp ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, bả vai trong bóng chuyền chiếm tỷ lệ 25% trong các loại chấn thương.
Các chấn thương trong tập luyện và thi đấu bóng chuyền xảy ra có rất nhiều nguyên nhân, do đó muốn làm tốt công tác phòng và chống chấn thương một cách chính xác, hữu hiệu, chúng ta cần phải điều tra để tìm ra các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chấn thương và các quy luật dẫn đến những nguyên nhân trên. Từ đó mới tìm ra được các phương pháp phòng chống thích hợp nhất.
I. CÁC CHẤN THƯƠNG CHỦ YẾU TRONG TẬP LUYỆN THỂ THAO Để thuận tiện cho việc phân tích và nghiên cứu chấn thương thể thao, kịp thời đề ra các biện pháp hợp lý và có hiệu quả về phòng và chống các chấn thương xảy ra trong tập luyện, người ta thường phân loại chấn thương thể thao như sau:
1. Dựa vào cấu trúc của chấn thương:
Chấn thương da, chấn thương cơ và dây chằng, chấn thương mành cơ, chấn thương bao khớp, chấn thương khớp, chấn thương dây chằng khớp, chấn thương sụn, chấn thương màng xương, chấn thương xương, chấn thương sụn, chấn thương cơ quan nội tạng.
Chấn thương tổ chức mềm: dập da ngón tay, tổn thương các tổ chức thần kinh nhánh, mao mạch ngoại biên của màng cơ bắp gân dây chằng, bao trượt, bao khớp…
2. Dựa vào chấn thương có tiếp xúc với bên ngoài hay không để chia ra:
2.1. Chấn thương hở
Sau chấn thương da và niêm mặc tính hoàn chỉnh bị phá vỡ, tổ chức bị chấn thương tiếp xúc thông với bên ngoài như bị cọ xát, đâm cắt toặc vỡ xuyên, gãy xương hở, những loại chấn thương này thường nhìn thấy miệng vết thương, có hiện tượng chảy máu ra ngoài dễ dẫn đến nhiễm trùng vết thương.
2.2. Chấn thương kín
Sau khi bị chấn thương da hoặc niêm mạc vẫn giữ nguyên vẹn. Chỗ bị chấn thương không thông tiếp với bên ngoài như bị va đập, cơ bị kéo dãn, bị bong gân, chấn thương não, rách vỡ cơ quan nội tạng, gẫy xương kín, sai khớp ... loại chấn thương này ở vùng bị chấn thương không nhìn thấy vết thương, nói chung đều có hiện tượng chảy máu trong.
3. Dựa vào sự nặng nhẹ và mức độ ảnh hưởng của vết thương để chia ra:
3.1. Chấn thương nhẹ:
Chấn thương tương đối nhẹ không ảnh hưởng đến chức năng vận động một cách rõ rệt. Sau chấn thương về cơ bản vẫn tiến hành theo đúng kế hoạch giảng dạy như đã đề ra.
3.2. Chấn thương vừa:
Chấn thương tương đối nhẹ, có ảnh hưởng nhất định đến chức năng vận động của người tập. Sau khi bị chấn thương không thể tiến hành tập
luyện thể thao đúng kế hoạch học tập đã định, đòi hỏi có sự tạm dừng vận động và giảng dạy ở bộ phận bị tổ thương.
3.3. Chấn thương nặng:
Vết thương nặng có ảnh hưởng rõ rệt đến chức năng thậm chí mất đi chức năng vận động của người tập. Do đó sau khi bị chấn thương không thể học tập được.
4. Dựa vào tính chất và tiến trình của chấn thương có thể chia ra:
4.1. Chấn thương cấp tính:
Loại chấn thương này chỉ tính một lần hoặc trong một giây lát, chấn thương do bạo lực trực tiếp hoặc gián tiếp mang đến.
4.2. Chấn thương mãn tính:
Loại chấn thương này đó là sự hao tổn và chấn thương cũ tái phát, do nhiều lần lặp lại các chấn thương nhẹ hoặc chấn thương nhỏ. Các chấn thương đó tích luỹ dần mà nặng hơn do cục bộ chịu tải vượt mức giới hạn trong thời gian dài làm cho tổ chức dần bị tổn thương, từ đó dẫn đến chấn thương mạnh hơn hoặc do chấn thương cấp mà chữa chưa khỏi hoàn toàn đã bị chấn thương, từ đó dẫn đến chấn thương nặng hơn.
II. CÁC LOẠI CHẤN THƯƠNG TRONG TẬP LUYỆN VÀ THI ĐẤU BÓNG CHUYỀN
Môn thể thao bóng chuyền là môn thi đấu đối kháng dán tiếp, thời gian thi đấu kéo dài, và là môn thể thao yêu cầu tốc độ cao nên yêu cầu người tập phải có trình độ thể lực tốt, có phản xạ nhanh, di chuyển, phòng thủ cứu đỡ bóng cho nên trong tập luyện và thi đấu nếu trình độ kém, ít kinh nghiệm thi đấu rất dễ xảy ra chấn thương. Chấn thương trong bóng chuyền có 2 loại là chấn thương cấp tính và chấn thương mãn tính.
* Các chấn thương cấp tính thường gặp trong tập luyện và thi đấu bóng chuyền là:
- Các chấn thương do tổn thương phần mềm như: xây sát da, rách, phồng dộp, dập da ngón tay…
- Chấn thương ngón tay, cổ tay khi tiếp xúc bóng quá mạnh hoặc chuyền, đỡ bóng không chính xác.
- Ngã xuống sân chống tay có thể gãy xương thuyền.
- Các chấn thương khớp khuỷu và chủ yếu là chấn thương các tổ chức phần mềm khớp khuỷu.
Các chấn thương do sai khớp, bong gân.
- Chấn thương khớp vai thường gặp là viêm bao gân cơ đầu dài cơ nhị đầu cánh tay, dãn dây chằng khớp vai, chấn thương ống vai.
- Các chấn thương do dãn cơ.
- Dãn dây chằng khớp gối bao gồm: dãn dây chăng trong, dãn dây chằng ngoài, dãn dây chằng bắt chéo.
- Tổn thương bao khớp của khớp gối, tổn thương sụn chêm.
- Nhảy lên không chắn, đập bóng rơi xuống tư thế không ổn định bị lật cổ chân.
- Nhảy lên rơi xuống vào chân đối phương dẫn đến lật cổ chân hoặc dãn dây chằng cổ chân.
* Chấn thương mãn tính chủ yếu là viêm xương bánh chè, vỡ xương bánh chè.
Chấn thương ở người học bóng chuyền phần lớn phát sinh trong các lần tập luyện ước chiếm khoảng trên dưới 30%, còn trong thi đấu chỉ phát sinh 20% còn lại phát sinh trong lao động và sinh hoạt. Trong các chấn thương cấp tính và mãn tính thường xảy ra trong tập luyện bóng chuyền thì chấn thương cấp tính là chủ yếu và phần lớn là dãn cơ hoặc dãn dây chằng, sai khớp. Còn phần nhỏ là tổn thương do tái chấn thương cũ.
III. NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN DẪN ĐẾN CHẤN THƯƠNG TRONG BÓNG CHUYỀN
Các chấn thương qua thống kê thường gặp trong tập luyện và thi đấu bóng chuyền, chúng xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau đây:
1. Do nhận thức không đầy đủ ý nghĩa của phòng chống chấn thương.
Do nhận thức và trình độ của người giảng dạy kém gây nên. Khi giảng dạy nếu để xảy ra chấn thương cho người tập thì trách nhiệm sẽ quy cho giáo viên giảng dạy ở những điểm sau:
1.1. Chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác phòng chống chấn thương, cho nên trong khi giảng dạy không chú ý nhắc nhở, giáo dục tầm quan trọng của công tác đề phòng, không dạy cho người học phương pháp bảo hiểm và tự bảo hiểm.
1.2. Không nắm được nguyên tắc huấn luyện và mối quan hệ của các nguyên tắc, trong giảng dạy yêu cầu người tập, tập với khối lượng lớn vượt quá sức chịu đựng của người tập.
1.3. Không nắm được các kiến thức cơ bản, cơ sở của khoa học TDTT. Đặc biệt là kiến thức y sinh, nên họ không hiểu được bộ phận cơ thể nào mâu thuẫn với yêu cầu kỹ thuật, không nắm dược tâm sinh lý của người tập, không nắm được những yêu cầu và điều kiện vệ sinh phục vụ cho tập luyện.
1.4. Do trình độ của người giảng dạy kém, khi sắp xếp nội dung tập luyện hoặc thi đấu có tác dụng chống đối lẫn nhau. Tổ chức giảng dạy học tập có khuyết điểm như phân tổ quá đông, nơi tập quá chật, địa điểm tập luyện không đảm bảo vệ sinh tập luyện.
1.5. Không nắm được mối quan hệ giữa thời tiết và cơ thể. Ví dụ: tập luyện về mùa hè do mất nhiều mồ hôi nên cơ thể chóng mệt mỏi, động tác không vững chắc còn về mùa lạnh tính ỳ sinh lý của cơ thể cao nên phải khởi động kỹ trước khi vào tập luyện, nếu không rất dễ xảy ra chấn thương.
Với sự ảnh hưởng của việc không nhận thức đầy đủ ý nghĩa của phòng chống chấn thương sẽ dẫn đến: không coi trọng giáo dục an toàn trong quá trình học tập và thi đấu, không tích cực sử dụng các loại biện pháp có hiệu quả đề phòng chấn thương. Đối với việc sau khi phát sinh chấn thương, không nắm và phân tích được quá trình dẫn đến chấn thương, không nắm nguyên nhân dẫn đến chấn thương, hỏi về nguyên nhân thường là không biết, không chịu khó và tích cực để tổng kết những bài học kinh nghiệm, dẫn đến sự cố chấn thương diễn ra liên tục. Vì cần phải cố gắng triển khai tuyên truyền giáo dục tính mục đích của TDTT, cố gắng quán triệt phương pháp phòng chống chấn thương là chính.
2. Do điều kiện sân bãi và dụng cụ tập luyện.
- Chủ yếu là do điều kiện sân bãi không đảm bảo theo yêu cầu tập luyện bị trơn trượt hoặc không bằng phẳng. Đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chấn thương khớp cổ chân và các khớp ở bàn chân mà ta thường gặp.
- Do điều kiện sân bãi tập luyện không đảm bảo vệ sinh tập luyện như: tập luyện ở những nơi quá chật hoặc quá đông người, không đủ ánh sáng, không khí ẩm thấp.
- Do dụng cụ tập luyện không đúng quy cách, cột và lưới không đúng tiêu chuẩn, khoảng cách giữa đường biên hoặc không có đệm đảm bảo an toàn trong tập luyện.
- Do trang phục tập luyện (quần áo, giày, tất) không đảm bảo cũng sẽ dẫn đến những chấn thương.
3. Do những tồn tại về mặt khởi động.
Không khởi động hoặc khởi động không đầy đủ, không chính xác, không khoa học là một trong những nguyên nhân dẫn đến chấn thương trong môn bóng chuyền. Nhất là những chấn thương dãn cơ hoặc sai khớp, dãn dây chằng rất nhiều chấn thương có quan hệ với nguyên nhân khởi động này. Trong khởi động chủ yếu tồn tại các vấn đề sau:
3.1. Chưa khởi động hoặc không khởi động đầy đủ.
Nếu chưa khởi động hoặc không khởi động nó sẽ làm cho người tập không thể hiện được tính nhịp điệu và chức năng hệ thống thần kinh- cơ bắp thần kinh của các cơ quan nội tạng. Nó sẽ không thể tăng thêm việc cung cấp máu cho các tổ chức cơ được đầy đủ, không nâng được nhiệt độ cơ bắp và tăng tính đàn hồi và sức mạnh cơ bắp sẽ không thể có cho hoạt động tiết dịch nhờn vào khớp một cách thích hợp. Từ đó dẫn đến kết quả là mối liên hệ của phản xạ có điều kiện trong vận động chưa được hồi phục và tăng cường, cơ bắp cứng, không nhịp nhàng. Biên độ hoạt động và độ linh