Ý nghĩa ngày Tết Nguyên đán

Một phần của tài liệu Phiếu học tập kỳ 2 kết nối (Trang 43 - 55)

B. THỰC HÀNH VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC

4. Ý nghĩa ngày Tết Nguyên đán

- Về tâm linh: Thể hiện sự giao hòa, giao cảm giữa trời đất với thần linh (theo quan niệm người Phương Đông) và cũng là cơ hội để con người thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn” một cách sâu sắc nhất, cụ thể nhất. Đây cũng là giá trị tình cảm trở thành nếp sống tốt đẹp-truyền thống.

-Về văn hóa: Là ngày đoàn viên của các thành viên trong gia đình và của các dân tộc, các vùng miền, …thâm chí còn là ngày đoàn tụ với những người đã mất (bữa cơm chiều 30 Tết). Tết cổ truyền là sự khởi đầu cho một năm mới phát triển của gia đình, đất nước và xã hội.

KẾT BÀI Cảm xúc, đánh giá của người viết

Ví dụ: Tết cổ truyền ngày nghỉ dài nhất và quan trọng nhất trong năm. Ai đi xa học tập hoặc làm việc dù có bận rộn đến đâu cũng cố gắng về nhà thăm gia đình, bạn bè giúp tình cảm thêm gắn kết.

Đây cũng là ngày tôn vinh giá trị truyền thống của gia đình và dân tộc.

--- NÓI VÀ NGHE: KỂ LẠI MỘT TRUYỀN THUYẾT

PHT SỐ 1.

Hoàn thành bảng sau:

Chọn truyền thuyết và ngôi ………

kể

Tóm tắt câu chuyện ………

Xác định từ ngữ then chốt và

giọng kể thích hợp ………

………..

DỰ KIẾN SẢN PHẨM

Chọn truyền thuyết và ngôi

kể - Nên chọn truyền thuyết mà em yêu thích, có nội dung hấp dẫn, giàu ý nghĩa, có độ dài vừa phải. Nếu được chỉ định kể một truyền thuyết cụ thể, hãy đọc kĩ để nắm được các sự kiện, chi tiết tiêu biểu.

- Chọn ngôi kể là ngôi thứ ba (giống như ở truyền thuyết mà em đã đọc hoặc đã nghe).

Tóm tắt câu chuyện Ghi lại các sự việc chính của câu chuyện theo một trật tự hợp lí (thường theo trình tự thời gian trước - sau, quan hệ nguyên nhân - kết quả) để dễ dàng ghi nhớ và kể lại.

Xác định từ ngữ then chốt và

giọng kể thích hợp nhớ chính xác các từ ngữ chỉ thời gian, địa điểm diễn ra câu chuyện, xác định đúng những lời nói quan trọng của nhân vật để không bỏ quan khi kẻ lại, chọn giọng kể phù hợp với nội dung của câu chuyện.

PHT SỐ 1.

Chọn truyền thuyết em yêu thích và lập dàn ý cho bài nói bằng cách điền các thông tin vào bảng sau:Truyền thuyết ………..

Nhân vật ……….

Chuỗi sự việc Mở đầu:………

->……….

………

->……….

………

->……….

………

Kết thúc:……….

………

Ý nghĩa của truyền thuyết PHT SỐ 3.

Kể lại truyền thuyết :" Thánh Gióng" bằng lời kể của em DỰ KIẾN SẢN PHẨM

Câu chuyện kể rằng vào Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai ông bà già nổi tiếng là sống phúc đức. Hai ông bà rất mong có một đứa con. Thế rồi, một hôm, bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử. Không ngờ vẻ nhà bà mang thai.

Điều kì lạ là mãi 12 tháng sau bà mới sinh được một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng rỡ vô cùng. Nhưng kì lạ hơn nữa là đứa trẻ đã lên ba tuổi mà vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.

Bấy giờ giặc Ân thế mạnh như chẻ tre tràn vào xâm lược nước ta. Nhà vua túng thế, bèn sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tiếng loa của sứ giả, bỗng cựa mình và cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả lấy làm kinh ngạc và cũng

tỏ ý vui mừng, vội về tâu với vua. Nhà vua chấp nhận và sai người ngày đêm làm đủ những vật mà chú bé yêu cầu.

Từ hôm gặp sứ giả, chú bé bỗng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn không biết no, áo vừa mới mặc đã chật. Hai vợ chồng làm lụng cực nhọc mà không đủ nuôi con. Bà mẹ cùng dân làng cuống cuồng chạy ngược xuôi lo cơm cà phục vụ cậu Gióng. Khi ăn đến mười nong cơm, ba nong cà, mỗi lần ăn xong một nong lại vươn vai và vụt lớn lên như thổi. Vải vóc do dân làng mang đến rất nhiều để may quần áo mà vẫn không đủ

Ngày ấy, giặc vừa đến sát chân núi Trâu thì sứ giả cũng kịp mang vũ khí tới.

Gióng bèn vươn vai đứng dậy, lập tức trở thành một tráng sỹ, khoác áo giáp, cầm roi sắt, chào mẹ và dân làng rồi nhảy lên ngựa. Cả người cả ngựa lao vun vút ra trận.

Trên chiến trường, Gióng tung hoành ngang dọc, tả đột hữu xung, giặc chết dưới tay như ngả rạ. Bỗng gậy sắt gãy, Gióng nhanh như chớp nhổ tre bên đường làm vũ khí mới. Giặc sợ hãi chạy trốn, dẫm đạp lên nhau mà chết

Dẹp giặc xong, cậu Gióng không quay về kinh để nhận công ban thưởng mà thúc ngựa đến núi Sóc, bỏ lại áo giáp sắt, một người một ngựa bay thẳng về trời.

Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Gióng ở làng quê, phong Gióng làm Phù Đổng Thiên Vương, phong mẹ Gióng là Thánh Mẫu Bảo Vương, cho làng có xóm Ban nơi Gióng sinh ra được đặt tên là làng Phù Đổng.

Nhiều đời sau người ta còn kể, khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu trụi một làng nay làng ấy gọi là làng Gióng. Những vết chân ngựa ngày xưa nay đã thành những ao hồ to nhỏ nối tiếp nhau.

--- THỰC HÀNH CỦNG CỐ, MỞ RỘNG

PHT SỐ 1.

Hoàn thiện bảng sau về các đặc điểm của truyền thuyết:

STT Các yếu tố Đặc điểm

1 Chủ đề 2 Nhân vật 3 Cốt truyện

4 Lời kế 5 Yếu tố kì ảo DỰ KIẾN SẢN PHẨM

STT Các yếu tố Đặc điểm

1 Chủ đề Kể lại cuộc đời và chiến công của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong tục, sản vật địa phương theo quan điểm của tác giả dân gian.

2 Nhân vật Nhân vật chính của truyền thuyết là những người anh 3 Cốt truyện hùngNội dung thường gồm ba phần gắn với cuộc đời của nhân vật chính: hoàn cảnh, xuất hiện và thân thế, chiến công phi thường, kết cục.

4 Lời kế Cô đọng, mang sắc thái trang trọng, ngợi ca, có sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật nhằm gây ấn tượng về tính xác thực của câu chuyện.

5 Yếu tố kì ảo Xuất hiện đậm nét ở tất cả các phần nhằm tôn vinh, lí tưởng hóa nhân vật và chiến công của họ.

PHT SỐ 2.

Sưu tầm một số bản kể của các truyền thuyết đã học. So sánh và sự giống và khác nhau (sự kiện, chi tiết) giữa các bản kể.

DỰ KIẾN SẢN PHẨM

So sánh truyền thuyết Thánh Gióng bản kể trong SGK (của Lê Trí Viễn) với bản kể của Nguyễn Đổng Chi:

“Vào thời Hùng Vương (không ghi rõ thời nào), có một người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống một thân một mình. Một hôm sáng dậy bà đi thăm nương, bỗng nhìn thấy một vết chân giẫm nát cả mấy luống cà. Bà kinh ngạc kêu lên: “Ôi! Bàn chân ai mà to thế này!”. Bỗng bà cảm thấy rùng mình khi đưa bàn chân ướm thử vào dấu chân lạ. Từ đó bà mang thai. Đủ ngày tháng, bà sinh được một đứa con trai bụ bẫm đặt tên là Gióng. Nhưng thằng bé lên ba tuổi rồi mà vẫn nằm ngửa đòi ăn, không biết ngồi biết lẫy, cũng không biết nói biết cười gì cả.

Ngày ấy có giặc Ân kéo vào cướp nước ta. Giặc Ân rất hung hăng tàn ác, cầm đầu là một viên tướng tên gọi Ân vương, hình dung cổ quái dữ tợn. Chúng nó đi đến đâu là đốt phá nhà cửa, giết người cướp của đến đấy. Quân đội Hùng Vương nhiều phen xuất trận, nhưng đánh không nổi. Vua Hùng lấy làm lo lắng vội phái sứ giả đi khắp nơi trong nước tìm bậc tướng tài để giúp vua cứu nước. Một hôm sứ giả đi đến làng chú bé Gióng. Nghe tiếng loa rao nói đến việc nhà vua cầu người tài, bà mẹ Gióng đang ru con, liền bảo đùa con rằng: “Con ơi! Con của mẹ chậm đi chậm nói làm vậy, thì biết bao giờ mới đi đánh giặc giúp vua được đây!”.

Không ngờ Gióng nhìn mẹ mở miệng bật lên thành tiếng: “Mẹ cho gọi sứ giả vào đây cho con!”. Nói xong lại im bặt. Bà mẹ vừa mừng vừa sợ, vội đi kể chuyện với xóm giềng. Mọi người đổ tới, ai nấy cho là một sự lạ. Sau cùng một người nói:

“Ta cứ đi mời sứ giả đến xem thử nó muốn cái gì”.

Khi sứ giả của nhà vua bước vào nhà nhìn thấy chú bé Gióng liền hỏi rằng:

“Mày là đứa trẻ lên ba mới học nói, mày định mời ta đến để làm gì?” Gióng trả lời rất chững chạc: “Về bảo với vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh gươm sắt, một giáp sắt và một nón sắt, ta sẽ đánh đuổi giặc dữ cho!”

Ai nấy đứng nghe khôn xiết lạ lùng. Cho là thần nhân xuất hiện, sứ giả lập tức phi ngựa về tâu vua. Nghe nói, Hùng Vương mừng rỡ liền ra lệnh cho thợ rèn góp tất cả sắt lại rèn ngựa, gươm, áo giáp và nón như lời xin của chú bé. Mọi thứ rèn xong nặng không thể tưởng tượng nổi. Hàng chục người mó vào thanh gươm mà không nhúc nhích. Vua Hùng phải cho hàng ngàn quân sĩ tìm mọi cách chở đến cho chú bé Gióng. Khi được tin quân sĩ khiêng ngựa sắt sắp đến làng, mẹ Gióng sợ hãi chạy về bảo con: “Con ơi! Việc nhà vua đâu phải là chuyện chơi. Hiện quân sĩ đang kéo đến ầm ầm ngoài bãi, biết làm thế nào bây giờ?”

Nghe nói thế, Gióng vụt ngồi dậy, nói: “Việc đánh giặc thì mẹ đừng lo.

Nhưng mẹ phải cho con ăn thật nhiều mới được!”

Mẹ vội thổi cơm cho con ăn, nhưng nấu lên được nồi nào Gióng ngốn hết ngay nồi ấy. Mỗi lần ăn một nồi cơm thì Gióng lại lớn thêm một ít và đòi ăn thêm.

Mẹ càng cho con ăn thì con lại càng lớn như thổi, bỗng chốc đã thành một chàng thanh niên khỏe mạnh. Hết gạo, bà mẹ đi kêu gọi xóm làng. Mọi người nô nức đem

gạo khoai, trâu rượu, hoa quả, bánh trái đến đầy một sân. Nhưng đưa đến bao nhiêu, Gióng ăn vợi hết bấy nhiêu, mà vẫn đòi ăn không nghỉ. Sau đó, Gióng lại bảo tiếp: “Mẹ kiếm vải cho con mặc”.

Người ta lại đua nhau mang vải lụa tới may áo quần cho Gióng mặc. Nhưng thân thể Gióng lớn vượt một cách kỳ lạ, áo quần vừa may xong đã thấy chật, thấy ngắn, lại phải mang vải lụa tới để chắp nối thêm. Không mấy chốc đầu Gióng đã chạm nóc nhà. Ai nấy chưa hết kinh ngạc thì vừa lúc quân sĩ đã hì hục khiêng được ngựa, gươm, áo giáp và nón sắt tới. Gióng bước ra khỏi nhà vươn vai một cái, người bỗng cao to sừng sững, chân dài hơn trượng, hét lên một tiếng như tiếng sấm: “Ta là tướng nhà Trời!”

Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng.

Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào, rung chuyển cả trời đất. Chỉ trong chớp mắt, ngựa đã xông đến đồn trại giặc bấy giờ đang đóng la liệt cả mấy khu rừng. Lưỡi gươm của Gióng vung lên loang loáng như chớp giật. Quân giặc xông ra chừng nào chết chừng ấy. Ngựa thét ra lửa thiêu cháy từng dãy đồn trại, lửa thiêu luôn cả mấy khu rừng. Khói bụi mịt mù, tiếng la hét kêu khóc như ri. Nhưng tướng giặc Ân vương vẫn cố gào thét hô quân sắp tới, Gióng càng đánh càng khỏe, thây giặc nằm ngổn ngang đầy rừng. Bỗng chốc gươm gãy. Không bối rối, Gióng thuận tay nhổ những bụi tre hai bên đường quật tới tấp vào các toán giặc đang cố gắng trụ lại theo lệnh chủ tướng. Chẳng mấy chốc quân giặc đã tẩu tán khắp nơi, Ân vương bị quật chết tan xác. Bọn tàn binh giặc lạy lục xin hàng. Quân đội của Hùng Vương cũng như dân các làng chỉ còn việc xông ra trói nghiến chúng lại. Không đầy một buổi, Gióng đã trừ xong nạn nước. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Đến đây, Gióng bèn cởi giáp bỏ nón lại, rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời. Sau khi thắng trận, để nhớ ơn người anh hùng, vua Hùng sai lập đền thờ Gióng ở làng quê, phong làm Phù Đổng Thiên vương.

Ngày nay chúng ta còn thấy dấu vết những dãy ao tròn nối nhau kéo dài suốt từ Kim Anh, Đa Phúc cho đến Sóc Sơn, người ta bảo đó là những vết chân ngựa của Thánh Gióng. Khu rừng bị ngựa sắt phun lửa thiêu cháy nay còn mang cái tên

là làng Cháy. Những cây tre mà Gióng nhổ quật vào giặc bị lửa đốt màu xanh ngả thành màu vàng và có những vết cháy lốm đốm, ngày nay giống ấy vẫn còn, người ta gọi là tre là ngà (hay đằng ngà).”

- Giống nhau: Những chi tiết chính trong truyện đều đầy đủ như Sự ra đời kì lạ của Thánh Gióng, Giặc Ân sang xâm lược, vua Hùng tìm người tài giúp nước, Gióng cất tiếng nói đầu tiên đòi đi đánh giặc, Nhân dân góp công nuôi Thánh Gióng, Thánh Gióng đánh bại giặc Ân, Sau khi chiến thắng, Thánh Gióng bay về trời.

- Điểm khác: Truyền thuyết Thánh Gióng của Nguyễn Đổng Chi có nhiều điểm khác như:

+ Xây dựng thêm nhân vật tướng giặc Ân.

+ Có nhiều đoạn đối thoại mẹ Gióng - Thánh Gióng, giữa sứ giả - thánh Gióng.

+ Một số chi tiết, sự kiện được miêu tả rõ ràng, chi tiết hơn. Ví dụ như đoạn Gióng đánh giặc: “Thế rồi Gióng mặc giáp sắt, đội nón sắt, tay cầm gươm múa quanh mấy vòng. Đoạn từ biệt mẹ và dân làng, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt bỗng chồm lên, phun thẳng ra đằng trước một luồng lửa đỏ rực. Gióng thúc chân, ngựa phi như bay, sải từng bước dài hàng chục con sào, rung chuyển cả trời đất…”.

PHT SỐ 3.

Tìm hiểu, giới thiệu một tác phẩm thơ hoặc vở kịch thể hiện nội dung truyện Thánh Gióng và nội dung truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh.

DỰ KIẾN SẢN PHẨM

- Một số tác phẩm thơ hoặc vở kịch về Thánh Gióng: Thánh Gióng (thơ, Nguyễn Lãm Thắng), Vịnh Đổng Thiên Vương (thơ, Nguyễn Khuyến)...

- Một số tác phẩm thơ hoặc vở kịch về Sơn Tinh, Thủy Tinh: Sơn Tinh, Thủy Tinh (thơ, Nguyễn Nhược Pháp)..

PHT SỐ 4.

Theo em, vì sao hội thi thể thao trong nhà trường phổ thông thường được đặt tên là Hội khoẻ Phù Đổng?

DỰ KIẾN SẢN PHẨM

- Đây là hội thi dành cho lứa tuổi thiếu niên - lứa tuổi của Thánh Gióng.

- Hội thi được tổ chức với mong muốn rèn luyện sức khỏe cho học sinh, để học sinh có thể lực tốt nhất trong học tập và lao động góp phần vào sự nghiệp xây dựng bảo vệ đất nước.

--- THỰC HÀNH ĐỌC

PHT SỐ 1.

Kể lại truyện Bánh chưng, bánh giầy DỰ KIẾN SẢN PHẨM

Hùng Vương thứ sáu muốn truyền ngôi cho một trong số những người con trai nên đã đưa ra điều kiện: “Không nhất định phải là con trưởng, chỉ cần làm vừa ý vua trong lễ Tiên vương sẽ được truyền ngôi cho”. Các hoàng tử thi nhau chuẩn bị mọi của ngon vật lạ đem lên dâng vua, riêng Lang Liêu chỉ quen với việc “chăm lo đồng áng, trồng khoai trồng lúa” nên không biết phải chuẩn bị lễ vật gì. Một đêm nọ, Lang Liêu nằm mơ được thần báo mộng: “Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo”. Chàng bèn lấy thứ gạo nếp vốn quen thuộc, làm ra hai loại bánh hình vuông hình tròn để dâng lên vua cha. Bánh hình vuông tượng trưng cho Trời đặt tên là bánh chưng, còn bánh hình tròn tượng trưng cho Đất đặt tên là bánh giầy.

Vua rất vừa ý và quyết định truyền ngôi cho Lang Liêu. Ngày nay, bánh chưng bánh giầy là hai món ăn không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc.

PHT SỐ 2.

Hoàn thành bảng sau:

Phần Nội dung chính

Phần 1:

Phần 2:

Phần 3:

DỰ KIẾN SẢN PHẨM

Phần Nội dung chính

Phần 1: Từ đầu đến “...

chứng giám” Vua Hùng đưa ra điều kiện để truyền ngôi.

Phần 2: Tiếp theo đến “...

hình tròn” Lang Liêu và các hoàng tử thi nhau tìm kiếm lễ vật để dâng lên vua cha.

Phần 3: Còn lại Ý nghĩa và phong tục làm bánh chưng bánh giầy của người Việt.

Một phần của tài liệu Phiếu học tập kỳ 2 kết nối (Trang 43 - 55)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(262 trang)
w