QUAN ĐIỂM TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Một phần của tài liệu Lu_N 罭 Ho繬 Thi_N Th醤G 2.23.Pdf (Trang 159 - 162)

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017-2021

4.2 QUAN ĐIỂM TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

4.2.1. Tạo động lực làm việc cho người lao động phù hợp với cơ chế, chính sách của Nhà nước và Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

(1) Các chính sách tạo động lực làm việc cho công chức là tổng hợp tất cả những chính sách, những biện pháp, những quy định của Nhà nước, của các cơ quan quản lý nhằm tạo ra sự khao khát, tự nguyện cống hiến, niềm đam mê làm việc người lao động để từ đó đạt được những kết quả cho tổ chức cũng như đạt được những mục tiêu của cá nhân người lao động. Trên cơ sở các yếu tố của động lực làm việc của người lao động có thể thấy chính sách tạo động lực làm việc có thể chia thành hai nhóm chính sách cơ bản, đó là:

(i) Nhóm chính sách tác động lên yếu tố duy trì động lực làm việc. Nhóm chính sách này tác động lên các yếu tố thuộc nhu cầu cơ bản của NLĐ, mặc dù không trực tiếp tạo ra động lực làm việc, nhưng hướng đến việc loại bỏ sự bất mãn, chán nản trong quá trình làm việc. Các chính sách này thường hướng đến việc cải cách chế độ tiền lương, cải thiện môi trường làm việc, xây dựng và duy trì bầu không trí làm việc dân chủ, hiệu quả thông qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phong cách lãnh đạo,..… Do đó các chính sách này bao gồm chính sách về tiền lương, thưởng; chính sách đảm bảo điều kiện làm việc: hiện đại hóa trang thiết bị, phương tiện làm việc; chính sách xây dựng văn hóa doanh nghiệp và phong cách lãnh đạo, quản lý,…

(ii) Nhóm chính sách tác động lên yếu tố thúc đẩy động lực làm việc.

Nhóm chính sách này tác động lên các yếu tố thúc đẩy động lực làm việc thật sự của người lao động. Các chính sách này thúc đẩy, khuyến khích, động viên người lao động hăng say, nỗ lực làm việc để thực hiện tốt chức năng, thẩm quyền được giao. Các chính sách này rất đa dạng, phong phú, nhưng nhìn chung bao gồm một số chính sách cơ bản, như: Chính sách tuyển dụng, bố trí, sử dụng người lao động; Chính sách đánh giá; Chính sách đào tạo, bồi dưỡng; Chính sách khen thưởng, kỷ luật,.…

Như vậy, động lực làm việc của người lao động là sự sẵn lòng, thể hiện sự nỗ lực để hướng tới thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của ngân hàng. Động lực làm việc xuất phát từ chính bản thân NLĐ, các cơ quan quản lý, NHTM chủ yếu có vai trò tạo ra điều kiện để xuất hiện động lực, duy trì và tiếp thêm động lực làm việc. Vai trò đó được thể hiện thông qua việc ban hành và thực thi các chính

sách tạo động lực làm việc cho họ, các chính sách này không chỉ tạo cho NLĐ có thái độ, hành động thực hiện theo mục tiêu rõ ràng, đã được xác định trước của tổ chức mà còn trao cho NLĐ những cơ hội để chủ động, sáng tạo hơn trong phạm vi thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình, đồng thời tham gia vào quá trình quản lý hoạt động theo mục tiêu của ngân hàng.

(2) Để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động trong các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nói riêng, việc hoàn thiện cơ chế chính sách của Nhà nước và Hiệp hội Ngân hàng luôn được chú trọng theo hướng phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam và có tính đến thông lệ quốc tế trong bối cảnh phát triển công nghệ số. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước đã có chủ trương và những quy định liên quan đến tạo động lực làm việc cho người lao động về huy động các nguồn lực đầu tư để phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực; Hoàn thiện các quy định về môi trường, điều kiện làm việc, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, công sở; Về tiền lương, tiền thưởng cho người lao động;

Điều kiện và môi trường làm việc cho người lao động,…. Hệ thống các quan điểm, chính sách và những quy định của Nhà nước và Hiệp hội Ngân hàng liên quan đến các hoạt động của các ngân hàng thương mại, gồm Luật Ngân hàng, Luật các Tổ chức tín dụng, Bộ Luật lao động,….

Vì vậy, trong quá trình tạo động lực làm việc đối với NLĐ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam phải thục hiện phù hợp và không trái với việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách, quy định này. Nhà nước và Hiệp hội Ngân hàng là cơ quan điều hành và giám sát hoạt động kinh doanh cũng như việc thực hiện cơ chế chính sách, quy định liên quan đến người lao động tại các NHTM, trong đó có Vietcombank.

4.2.2. Tạo động lực làm việc bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Trong quan hệ hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, Nhà nước thông qua các cơ chế, chính sách luôn quan

tâm tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi cho hệ thống ngân hàng ở nước ta, đồng thời cũng chú trọng tới đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong các ngân hàng thương mại. Đây là vấn đề tác động trực tiếp tới sự phát triển toàn diện của mỗi người, góp phần xây dựng con người của chế độ xã hội mới, tạo động lực làm việc để thúc đẩy người lao động quan tâm đến kết quả lao động.

Xác định quy định làm việc của người lao động là vấn đề quan trọng được thể hiện trong Văn kiện Đại hội X của Đảng: Tiếp tục hoàn chỉnh thể chế thị trường lao động, bảo đảm hài hoà lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động. Đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội, đa dạng hoá hình thức bảo hiểm và phù hợp với kinh tế thị trường, xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện tốt chế độ bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động. Văn kiện Đại hội XI của Đảng: Thực hiện tốt các chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập nhằm khuyến khích và phát huy cao nhất năng lực của người lao động.

Bảo đảm quan hệ lao động hài hoà, cải thiện môi trường và điều kiện lao động.

Kiên quyết khắc phục những bất hợp lý về tiền lương, tiền công, trợ cấp xã hội phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước,…Gắn tiền lương của người lao động với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế rủi ro trong lao động, đưa việc thi hành pháp luật lao động vào nề nếp, xây dựng quan hệ lao động ổn định hài hoà và tiến bộ,…

Như vậy, các Ngân hàng thương mại, trong đó có Vietcombank và bản thân người lao động đều phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Đảng và Nhà nước liên quan đến tạo động lực làm việc cho người lao động. Theo đó, tiền lương, hưởng và các chế độ phúc lợi,… cho người lao động trong Hệ thống Vietcombank phải đảm bảo cuộc sống và phát triển theo từng thời điểm; Đây thực sự là yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của Ngân hàng.

Một phần của tài liệu Lu_N 罭 Ho繬 Thi_N Th醤G 2.23.Pdf (Trang 159 - 162)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(231 trang)