Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách liên quan đến tạo động lực làm việc cho người lao động

Một phần của tài liệu Lu_N 罭 Ho繬 Thi_N Th醤G 2.23.Pdf (Trang 170 - 173)

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017-2021

4.4 GIẢI PHÁP TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

4.4.1 Nhóm giải pháp cơ chế, chính sách liên quan đến tạo động lực làm việc cho người lao động

4.4.1.1 Sửa đổi cơ chế chính sách, quy định ảnh hưởng đến tạo động lực làm việc cho người lao động

Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam cần rà soát các chính sách, quy định liên quan làm hạn chế đến công tác tạo động lực làm việc cho người lao động và tuân thủ các quy định của Nhà nước đảm bảo quyền lợi của NLĐ.

(1) Trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Bảy khóa XII đã nêu cải cách chính sách tiền lương đối với người lao động trong doanh nghiệp như sau:

(i) Tiếp tục khẳng định tiền lương trong khu vực doanh nghiệp là giá cả sức lao động, hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động theo quy luật của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Phân phối tiền lương dựa trên kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh

doanh, bảo đảm mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

(ii) Hoàn thiện chính sách về tiền lương tối thiểu cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập khu vực và quốc tế, trong đó quy định mức lương tối thiểu theo giờ nhằm nâng cao độ bao phủ của tiền lương tối thiểu và đáp ứng tính linh hoạt của thị trường lao động; Xác định và điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động, đặt trong mối quan hệ với các yếu tố của thị trường lao động và phát triển kinh tế - xã hội (cung cầu lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, năng suất lao động, việc làm, thất nghiệp, khả năng chi trả của doanh nghiệp,…).

(iii) Giảm dần, tiến tới xóa bỏ sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước để các doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp 100% vốn nhà nước) được tự chủ quyết định chính sách tiền lương (trong đó có thang, bảng lương, định mức lao động) và trả lương phù hợp với tổ chức sản xuất, tổ chức lao động, khả năng của doanh nghiệp và công khai tại nơi làm việc để người lao động, công đoàn giám sát.

Nhà nước tăng cường hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường lao động để doanh nghiệp và người lao động thương lượng, thỏa thuận tiền lương, ký hợp đồng lao động và trả lương gắn với năng suất và kết quả lao động.

(iv) Tổ chức tốt các hoạt động cung cấp dịch vụ công để chính sách tiền lương khu vực sản xuất, kinh doanh được thực thi có hiệu quả cần thiết phải tổ chức và phát triển các hoạt động cung cấp dịch vụ công, nhất là dịch vụ thông tin thị trường lao động, dạy nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm; dịch vụ hỗ trợ phát triển quan hệ lao động trong doanh nghiệp; Dịch vụ theo dõi, giám sát, phân tích và dự báo xu hướng tiền lương trên thị trường; Dịch vụ về an sinh xã hội và phúc lợi xã hội,....; Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát về phân phối tiền lương và thu nhập trong doanh nghiệp. Một mặt, đảm bảo cho thị trường lao động hoạt động khách quan theo đúng nguyên tắc của thị trường; tiền lương, tiền công phải do thị trường quyết định. Mặt khác, phải đảm bảo cho thị trường phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; Tiền lương, tiền công phải thực sự được phân phối công bằng.

(2) Các chính sách an sinh xã hội như chi trả bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ người bị tạm thời ngưng việc, trợ cấp cho người nghèo, người bị mất kế sinh nhai,… cần phải được ưu tiên hàng đầu về nguồn lực và thực hiện nhanh chóng, đặc biệt là nếu bệnh dịch tái bùng phát trong nước. Các chính sách hỗ trợ cần phải bao phủ được những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương là người lao động trình độ thấp và lao động trong khu vực phi chính thức khi họ chiếm một tỷ trọng lớn, dễ tổn thương, chịu tác động nặng nề nhất, tốc độ suy giảm thu nhập nhanh nếu kinh tế rơi vào suy thoái. Phải triển khai nhanh, gọn, đúng đối tượng, chuyển hỗ trợ bằng nhiều kênh khác nhau (trong đó, hết sức chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin như: Dịch vụ mobile money, ví điện tử…) mới đảm bảo chính sách nhân văn sớm đi vào cuộc sống.

Liên quan đến bảo hiểm tự nguyện, Nhà nước nên cho phép doanh nghiệp sử dụng quỹ BHTN trong việc đào tạo kỹ năng cho người lao động trong thời gian giãn việc, nghỉ việc để một mặt nâng cao trình độ cho người lao động, mặt khác giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuyển dụng khi nền kinh tế cũng như doanh nghiệp hoạt động bình thường trở lại. Đồng thời, người lao động, dù tạm thời chưa có việc làm, nên được phép tiếp tục duy trì tham gia BHXH, từ đó được bảo đảm các quyền lợi về BHTN và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

4.4.1.2 Tăng cường sự phối hợp giữa các ngân hàng thương mại và Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong tạo động lực làm việc

(1) Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam cần tăng cường phối hợp với các ngân hàng thương mại và Hiệp hội Ngân hàng trong tạo động lực làm việc cho người lao động; Học tập, trao đổi kinh nghiệm từ những ngân hàng làm tốt công tác này. Các chi nhánh trong hệ thống Vietcombank chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn nắm tình hình an ninh trật tự, tâm tư, nguyện vọng của người lao động để từ đó có biện pháp giải quyết kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả công tác tạo động lực làm việc.

(2) Viê ̣c tạo động lực làm việc cho người lao động đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiê ̣u quả kinh doanh của ngân hàng trong bối cảnh

cạnh tranh ngày càng khốc liê ̣t. Mặc dù mỗi Ngân hàng thương mại đều có một hệ thống chính sách đãi ngộ và các công cụ thực hiện riêng, nhưng trên thực tế các hệ thống này đều tồn tại nhiều bất cập. Vì vậy, Vietcombank cần phối hợp với các NHTM và HHNH thực hiện tốt các nội dung về tạo động lực, như:

Tính chất công việc; Môi trường làm việc; Đánh giá thành tích; Công tác đào tạo; Các hoạt động tinh thần; Xây dựng chế độ lương, thưởng cạnh tranh, tương xứng với mức độ cống hiến của từng người. Thực tế cho thấy, chế đô ̣ lương, thưởng hợp lý và cạnh tranh, đảm bảo cuộc sống và công bằng sẽ tạo động lực thúc đẩy người lao động nâng cao trình độ nhằm đóng góp một cách tối đa cho hoạt đô ̣ng của ngân hàng.

(3) Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã thực hiện khá tốt việc tạo động lực làm việc cho người lao động, trong đó có việc đóng bảo hiểm đầy đủ; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, tay nghề; thực hiện chế độ nghỉ mát, câu lạc bộ thể dục thể thao; tiền lương cao trong hệ thống ngân hàng,... Chính vì vậy cần tôn vinh, khen thưởng các chi nhánh, đơn vị của Hệ thống Vietcombank để ghi nhận công lao, thành tích trong thực hiện đúng các hợp đồng, thoả thuận lao động đã ký kết đảm bảo các quyền lợi và nghĩa vụ đối người lao động, có cách làm hay, hình thức tổ chức mới trong tạo động lực làm việc.

Một phần của tài liệu Lu_N 罭 Ho繬 Thi_N Th醤G 2.23.Pdf (Trang 170 - 173)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(231 trang)