Nguyên tắc và các hành vi bị cấm trong khiếu nại và giải quyết khiếu nại

Một phần của tài liệu Giáo trình Pháp luật khiếu nại khiếu kiện hành chính 2019 (Trang 28 - 31)

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH

1.4 Nguyên tắc và các hành vi bị cấm trong khiếu nại và giải quyết khiếu nại

Điều 4 Luật khiếu nại năm 2011 quy định: “Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại phải được thực hiện theo quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời”. Trên cơ sở các nguyên tắc chung này và bản chất của hoạt động khiếu nại, giải quyết khiếu nại thì những nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại như sau:

- Nguyên tắc pháp chế: Được thể hiện qua việc Hiến pháp quy định cụ thể về quyền khiếu nại của công dân. Khiếu nại là ranh giới chuẩn mực giữa cái đúng và cái sai, vì khi khiếu nại thì giữa các chủ thể đã có sự bất đồng nhất định. Sự đúng sai ấy phải căn cứ vào những quy định của pháp luật làm chuẩn mực giải quyết. Nguyên tắc pháp chế còn thể hiện cụ thể qua thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại được hình thành trên cơ sở Hiến pháp. Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”.

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại cũng phải tuân thủ nguyên tắc trên, phải theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; nguyên tắc trên còn thể hiện tinh thần tôn trọng, lắng nghe nhân dân trong quản lý nhà nước nói chung, khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính nói riêng. Đây là nguyên tắc cơ bản đảm bảo quyền khiếu nại và sự khách quan, công bằng trong giải quyết khiếu nại.

- Nguyên tắc chân lý khách quan: đây là nguyên tắc quan hệ trực tiếp đến nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này đòi hỏi công dân phải trung thực khi khiếu nại, phải phản ánh đúng sự thật khách quan, không lợi dụng quyền

khiếu nại để vu khống, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người khác. Người Nguyên tắc chân lý khách quan ảnh hưởng nhiều đến kết quả giải quyết khiếu nại vì nếu cung cấp thông tin không chính xác dễ dẫn đến việc giải quyết không đúng của cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc này để đảm bảo tính chính xác của kết quả giải quyết khiếu nại. Nguyên tắc này được cụ thể hóa bởi các quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước phải thu thập đầy đủ chứng cứ, tài liệu, về thủ tục lập biên bản, tiếp nhận hồ sơ… đồng thời cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi, phải cung cấp thông tin, tài liệu để công dân thực hiện quyền khiếu nại, không cản trở trù dập người khiếu nại.

- Nguyên tắc công khai: Nguyên tắc công khai đảm bảo cho quyền khiếu nại của người dân được thực hiện dễ dàng không bị trù dập, các vụ khiếu nại không bị che giấu. Ngoài ra, nguyên tắc này còn giúp việc giải quyết khiếu nại đúng luật, nhanh chóng và chính xác, giúp các cơ quan giám sát thực hiện tốt quyền giám sát đối với công tác giải quyết khiếu nại; qua đó đôn đốc và kịp thời có được những biện pháp thích hợp cho tình hình mới. Công khai kết quả giải quyết khiếu nại còn thể hiện sự minh bạch cuẩ quá trình giải quyết và công bằng giữa các vụ việc khiếu nại.

- Nguyên tắc bình đẳng giữa các bên tham gia thủ tục giải quyết khiếu nại:

Trong thủ tục giải quyết khiếu nại các bên đều có quyền chứng minh, đưa ra các chứng cứ, lý do cho mình, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Chẳng hạn, người khiếu nại có nghĩa vụ trình bày về sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu một cách trung thực, thì người bị khiếu nại có quyền đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định hoặc việc làm khi bị khiếu nại, kiến nghị lại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định của cơ quan đã giải quyết. Nguyên tắc này còn được thể hiện cụ thể trong quy định về nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại là tổ chức đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, lắng nghe ý kiến, lý do của người khiếu nại22; đôi bên có quyền tự do đưa ra những yêu cầu, căn cứ bảo vệ cho lý lẽ của mình. Nhưng suy cho cùng nguyên tắc bình đẳng trong bối cảnh này chỉ mang tính tương đối do ảnh hưởng từ vị trí của hai chủ thể: một bên có quyền quản lý, còn bên kia là bên chịu sự quản lý.

- Nguyên tắc trách nhiệm: Người khiếu nại phải chịu trách nhiệm trước những gì trình bày trong đơn khiếu nại, phải thực hiện quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật. Nếu người khiếu nại cố tình lợi dụng quyền khiếu nại để thực hiện những hoạt động phi pháp như: tuyên truyền chống phá Nhà nước, gây rối trật tự công cộng,

22 Theo Điều 14, 15 Luật khiếu nại năm 2011.

vu khống…thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Bên cạnh đó thì người bị khiếu nại cũng phải chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật mà mình đã thực hiện và xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại. Trong công tác giải quyết khiếu nại thì người giải quyết phải chịu trách nhiệm trước những quyết định của mình. Tóm lại, tất cả các chủ thể trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại đều phải chịu trách nhiệm trước những hành vi, quyết định của mình, như vậy sẽ đảm bảo việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đạt hiệu quả.

Có thể khẳng định rằng các nguyên tắc trên có ý nghĩa quan trọng trong việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại. Khi giải quyết khiếu nại cần nghiêm chỉnh chấp hành đồng bộ các nguyên tắc trên, nhằm giải quyết đúng đắn, khách quan các khiếu nại. Ngoài ra, trong công tác giải quyết khiếu nại đòi hỏi phải linh hoạt, tùy trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể để đưa ra những cách giải quyết thật thỏa đáng làm dung hòa quyền lợi của cá nhân và xã hội.

1.4.2 Các hành vi bị cấm trong khiếu nại và giải quyết khiếu nại

Với những đặc thù của quyền khiếu nại và công tác giải quyết khiếu nại, Điều 6 Luật khiếu nại đã quy định những hành vi bị cấm cụ thể sau:

Một là, cản trở, gây phiền hà cho người thực hiện quyền khiếu nại; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại;

Hai là, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại; không giải quyết khiếu nại; làm sai lệch các thông tin, tài liệu, hồ sơ vụ việc khiếu nại; cố ý giải quyết khiếu nại trái pháp luật. Hành vi cấm này nhằm đảm bảo nguyên tắc khách quan trong quá trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại.

Ba là, ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định. Điều này đồng nghĩa với việc mọi trường hợp giải quyết khiếu nại thì kết quả giải quyết chỉ được ban hành dưới hình thức quyết định bằng văn bản.

Bốn là, bao che cho người bị khiếu nại; can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết khiếu nại.

Năm là, cố tình khiếu nại sai sự thật.

Sáu là, kích động, xúi giục, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo người khác tập trung đông người khiếu nại, gây rối an ninh trật tự công cộng.

Bảy là, lợi dụng việc khiếu nại để tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm lợi ích của Nhà nước; xuyên tạc, vu khống, đe dọa, xúc phạm uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, người thi hành nhiệm vụ, công vụ khác.

Tám là, vi phạm quy chế tiếp công dân;

Chín là, vi phạm các quy định khác của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại.

Các hành vi bị cấm được quy định khá chi tiết nhưng đến nay vẫn chưa có quy định cụ thể xử lý trách nhiệm chủ thể vi phạm. Thiết nghĩ, mức độ vi phạm của từng hành vi cần được quy định trách nhiệm xử lý tương ứng nhằm đảm bảo hiệu lực quy định về các hành vi bị cấm.

Một phần của tài liệu Giáo trình Pháp luật khiếu nại khiếu kiện hành chính 2019 (Trang 28 - 31)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(255 trang)