CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHIẾU NẠI ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH VÀ HÀNH VI HÀNH CHÍNH
2.6 Thực trạng khiếu nại hành chính ở nước ta
Theo Báo cáo của Thanh tra Chính phủ44 thì thực tiễn triển khai thi hành Luật khiếu nại trong thời gian qua có những điểm nổi bật sau:
Công tác giải quyết khiếu nại luôn được quan tâm và chỉ đạo sâu sát của Đảng và các cấp chính quyền. Cụ thể sau khi Luật khiếu nại có hiệu lực thi hành thì các văn bản chỉ đạo quan trọng đã được ban hành như: Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 18/5/2012 về “Chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo”; Quốc Hội ban hành Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23/11/2013 về “Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết KNTC của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai”; Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 về
“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo”. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật khiếu nại luôn được các cấp quan tâm và triển khai tích cực, cụ thể từ năm 2012 – 2016 đã mở trên 35 nghìn lớp tập huấn, hội nghị phổ biến cho gần 2 triệu lượt người. Riêng năm 2016 đã mở 16.290 lớp tập huấn, hội nghị phổ biến cho 937.499 lượt người.
Giai đoạn 2012 – 2016 tình hình khiếu nại có xu hướng giảm so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, vẫn có diễn biến phức tạp và gay gắt ở một số địa phương nhất là những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Đặc biệt, tình hình khiếu kiện đông người tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường có đoàn
44 Báo cáo số 3537/BC – TTCP của Thanh tra Chính phủ ngày 30/12/2016 báo cáo tổng kết 04 năm thi hành Luật khiếu nại, Luật tố cáo.
lên tới vài trăm người với thái độ bức xúc, gay gắt, nhiều lần tập trung lên Trung ương45. Đáng chú ý, các đoàn đông người thường được tổ chức chặt chẽ có sự ủng hộ tienf bạc, lương thực của các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước. Khiếu nại trong lĩnh vực đất đai vẫn chiếm tỉ lệ cao nhưng cũng có những chuyển biến tích cực. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường, qua kết quả tổng hợp cho thấy, lượng đơn thư trong thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng không giảm so với thời điểm trước Luật đất đai 2013 có hiệu lực; tỷ lệ đơn khiếu nại về thu hồi đất giảm nhưng tăng khiếu nại về giá bồi thường. Số lượng đơn thư khiếu nại tiếp nhận như sau: tiếp nhận, xử lý 317.305 đơn khiếu nại (giảm 56,5% so với giai đoạn 2008-2011) với 233.028 vụ việc (giảm 55,3%); trong đó có 169.512 vụ việc thuộc thẩm quyền (giảm 41,7%), chiếm 84,7% tổng số vụ việc thuộc thẩm quyền. Qua kết quả giải quyết khiếu nại có 16,4%
khiếu nại đúng, 13,1% khiếu nại có đúng, có sai và 70,5% khiếu nại sai. Các vụ khiếu nại tồn đọng, kéo dài được Thủ tướng, Phó Thủ tướng chỉ đạo quyết liệt giải quyết dứt điểm, cụ thể Từ tháng 7 năm 2016 đến cuối năm 2016, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã trực tiếp chủ trì họp với lãnh đạo các Bộ, ngành và 13 tỉnh, thành phố (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang, Tiền Giang, Đăc Nông, Bình Phước, Lâm Đồng, Bình Định, Bình Thuận, Đà Nẵng, Hải Dương) để chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, qua đó đã giảm áp lực các đoàn khiếu kiện lên các cơ quan Trung ương.
Công tác triển khai thi hành Luật khiếu nại thời gian qua đã được những kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng tồn tại những bất cập, hạn chế nhất định đã được Thanh tra Chính phủ chỉ rõ trong báo cáo:
Thứ nhất, một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại; cấp ủy, người đứng đầu một số đơn vị, nhất là ở cấp cơ sở, chưa quan tâm đầy đủ, chưa xác định rõ trách nhiệm của mình trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại.
Thứ hai, chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại ở một số địa phương còn hạn chế, vẫn còn tình trạng thực hiện không đúng quy trình giải quyết khiếu nại gây bức xúc cho công dân; thời hạn giải quyết kéo dài; chất lượng hạn chế.
Thứ ba, việc tổ chức thực hiện theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại còn hạn chế.
Thứ tư, một số địa phương chưa thực sự nỗ lực, quyết tâm trong việc giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài; thiếu chủ động kiểm tra, rà soát;
45 Thống kê cho thấy, số lượng đoàn đông người được các bộ, ngành TW tiếp tăng 62,4% so với giai đoạn 2008- 2011, Ban Tiếp công dân TW tiếp tăng 32,7%
chưa xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm vi phạm pháp luật trong công tác giải quyết khiếu nại.
Thứ năm, việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo còn chưa nghiêm túc, chất lượng còn hạn chế. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc theo dõi, tích hợp, khai thác, sử dụng các thông tin, dữ liệu về khiếu nại còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu.
Qua chương này, người nghiên cứu cần nắm rõ những quy định của pháp luật về thực hiện quyền khiếu nại. Cụ thể quyền lựa chọn khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính khi không đồng ý với quyết định hành chính, hành vi hành chính. Khi khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc đã giải quyết mà không đồng ý thì được quyền khiếu nại lần hai (Trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ) hoặc khởi kiện vụ án hành chính. Quyền khiếu nại không bị giới hạn trong giải quyết theo thủ tục hành chính vì khi không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần hai thì người khiếu nại được quyền khởi kiện tại Tòa án. Trong quá trình thực hiện trình tự khiếu nại nêu trên, người khiếu nại phải tuân thủ các quy định về hình thức, thời hiệu, các hành vi bị cấm trong quá trình khiếu nại. Đặc biệt, cần xác định rõ và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ trong quá trình khiếu nại; phải chấp hành quyết định, hành vi bị khiếu nại trừ trường hợp quyết định đó bị tạm đình chỉ.
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1. Trình bày quy định pháp luật về trình tự khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính.
Câu 2. Người khiếu nại viết đơn khiếu nại phải có những nội dung gì? Người khiếu nại có được quyền khiếu nại trực tiếp không, khi người dân đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp công dân xử lý thế nào?
Câu 3. Trình bày quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại.
Câu 4. Người khiếu nại được quyền rút khiếu nại khi nào? Khi người khiếu nại rút khiếu nại thì vụ việc đó xử lý thế nào?
Câu 5. Trình bày sự khác nhau trong quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại lần đầu với quyền, nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại lần hai.
CHƯƠNG 3