Có một số hệ thống tỷ giá cố định trong thực tế:
i) Bản vị tiền tệ (currency standard): Một đồng tiền được sử dụng làm đồng tiền dự trữ;
ii) Bản vị vàng: Giá của các đồng tiền được cố định trên cơ sở vàng và vàng được sử dụng làm dự trữ quốc tế.
iii) Bản vị đa kim loại
iv) Bản vị vàng – tiền tệ
6. Đồng tiền dự trữ trong hệ thống tiền tệ quốc tế
Bản vị tiền tệ dự trữ
Trong hệ thống bản vị tiền tệ dự trữ (the reserve currency system), ngân hàng trung ương cố định tỷ giá của đồng tiền trong nước với đồng tiền dự trữ (the reserve currency).
Tỷ giá giữa các đồng tiền không phải là đồng tiền dự trữ được giữ cố định một cách tự động.
Đồng tiền dự trữ được sử dụng làm dự trữ quốc tế và ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại tệ để duy trì tỷ giá cố định.
6. Đồng tiền dự trữ trong hệ thống tiền tệ quốc tế
Tính bất đối xứng của hệ thống tiền tệ dụ trữ
Trong hệ thống tiền tệ dự trữ, nước phát hành đồng tiền dự trữ có vị trí đặc quyền.
Nước phát hành đồng tiền dự trữ không cần can thiệp vào thị trường ngoại tệ để duy trì tỷ giá cố định.
Nước phát hành đồng tiền dự trữ có thể thực thi chính sách tiền tệ độc lập trong chế độ tỷ giá cố định.
Nước phát hành đồng tiền dự trữ có thể sử dụng chính sách tiền tệ để tác động đến nền kinh tế trong nước và nước ngoài.
6. Đồng tiền dự trữ trong hệ thống tiền tệ quốc tế Bản vị vàng
Trong chế độ bản vị vàng, giá của các loại tiền tệ được cố định với vàng.
i) Vàng được sử dụng làm dự trữ quốc tế và vàng được tự do xuất khẩu hay nhập khẩu giữa các nước.
ii) Không một nước nào phát hành đồng tiền dự trữ và không một nước nào có đặc quyền trong hệ thống.
6. Đồng tiền dự trữ trong hệ thống tiền tệ quốc tế
Điều chỉnh trong chế độ bản vị vàng
Trong chế độ bản vị vàng, điều chỉnh cán cân thanh toán có tính chất đối xứng tức là các nước cùng chia sẽ gánh nặng của quá tình điều chỉnh cán cân thanh toán.
Cung tiền tăng làm lãi suất giảm và đầu tư dịch chuyển tới các tài sản nước ngoài. Dòng ra vốn làm giảm dự trữ vàng và cung tiền trong nước, và khiến lãi suất tăng trở lại.
Ở nước ngoài, dự trữ vàng tăng, làm tăng cung ứng tiền tệ và giảm lãi suất ở nước ngoài.
6. Đồng tiền dự trữ trong hệ thống tiền tệ quốc tế
Lợi ích và hạn chế của chế độ bản vị vàng
Chế độ bản vị vàng có một số lợi ích tiềm tàng:
i) Không nước nào có vị trí đặc quyền; quá trình điều chỉnh có tính chất đối xứng (symmetric).
ii) Tỷ giá cố định trong chế độ bản vị vàng tạo ra kỷ luật với chính sách tiền tệ.
6. Đồng tiền dự trữ trong hệ thống tiền tệ quốc tế
Lợi ích và hạn chế của chế độ bản vị vàng
Chế đô bản vị vàng cũng có một số hạn chế:
i) Cung tiền bị giới hạn bởi cung ứng vàng và lượng vàng dự trữ của ngân hàng tung ương;
ii) Chế độ bản vị vàng áp đăt các hạn chế đối với Ngân hàng trung ương trong việc thực thi chính sách tiền tệ.
iii) Sự ổn định của giá cả trong nước phụ thuộc vào sự ổn định của giá vàng.
iv) Các nước sản xuất vàng có khả năng ảnh hưởng đến tình hình kinh tế vĩ mô trong các nước khác.
6. Đồng tiền dự trữ trong hệ thống tiền tệ quốc tế
Bản vị song kim (Bimetalic)
Trong chế độ bản vị song kim, giá trị của đồng tiền được xác định trên cơ sở cả vàng và bạc.
Mỹ sử dụng bản vị song kim từ năm 1837 đến 1861.
Ngân hàng trung ương xác định xác định giá trị đồng tiền trên cơ sở cả vàng và bạc.
1 đô-la bằng 371.25 gren (grains) bạc hay 23.22 gren vàng.
6. Đồng tiền dự trữ trong hệ thống tiền tệ quốc tế
Bản vị vàng và tiền dự trữ
Dự trữ của các ngân hàng trung ương gồm có vàng và các loại tiền tệ dự trữ. Giá trị của tiền tệ dự trữ được cố định vào vàng. Giá trị của các đồng tiền khác được cố định vào đồng tiền dự trữ.
Chế độ bản vị kép vàng và đồng tiền dự trữ hoạt động giống như một chế độ bản vị vàng nhưng linh hoạt hơn.
Hệ thống tiền tệ quốc tế Bretton-Woods hình thành sau chiến tranh thế giới thứ hai là một hệ thống bản vị kép vàng và đồng tiền dự trữ.