PHẦN IV: BIỆN PHÁP AN TOÀN GIAO THÔNG VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC
II. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THI CÔNG
4. Thi công hệ thống đường giao thông
Tuyến đường D2 được xây dựng từ nút N8 đến nút N2 có chiều dài là 93,88m;
Tuyến đường D3 được xây dựng từ nút N6 đến nút N3 có chiều dài là 51,16; Tuyến đường N1 được xây dựng từ nút N2 đến nút N3 có chiều dài là 118,52m; Tuyến đường N2 được xây dựng từ nút N5 đến nút N6 có chiều dài là 101,77m.
a) Đào đất hữu cơ, đào khuôn đường.
- Công tác khôi phục tim đường:
+ Nhà thầu tiến hành khôi phục tim đường, các mốc cao đạc dọc tuyến và bố trí thêm các mốc phụ để phụ kiểm tra và đo bổ sung các mặt cắt ngang trong trường hợp cần thiết và phải được bảo vệ chu đáo để công tác kiểm tra và nghiệm thu sau này được chính xác và nhanh chóng.
+ Để bảo quản các cọc mốc, cán bộ kỹ thuật dấu các cọc mốc sang hai bên, ngoài phạm vi thi công nền đường từ 8m đến 20m để sau này khi cần kiểm tra có thể dễ dàng khôi phục lại bất cứ lúc nào trong quá trình thi công.
+ Kiểm tra lại kích thước hình học, cao độ thiên nhiên, chi tiết các mặt cắt ngang để đối chiếu lại bản vẽ nếu có sai khác phải trình lên Chủ đầu tư và Tư vấn giám sát, Tư vấn thiết kế để xử lý và phải có biên bản bàn giao, biên bản kiểm tra lại đường đen có chữ ký của các bên liên quan ký vào để sau làm số liệu nghiệm thu, thanh quyết toán sau này.
+ Bổ sung thêm các cọc chi tiết ở các vị trí có đường cong, các vị trí đặc biệt.
+ Thông báo việc triển khai tổ chức thi công công trình, đặc biệt là đối với các hộ dân ở gần khu vực thi công.
- Công tác lên khuôn đường, xác định ranh giới thi công:
+ Mép nền đường được đánh dấu trên thực địa bằng các cọc gỗ nhỏ tại vị trí xác định được bằng cách đo hoặc tính toán theo độ đào đắp trên mặt cắt ngang kể từ vị trí cọc tim đường. Phương pháp dùng thước mẫu taluy thực hiện bằng cách cứ 20 - 30 m đặt một thước mẫu để lúc thi công khống chế được phương hướng đào đắp ta luy và độ dốc taluy. Công việc này do các cán bộ kỹ thuật thực hiện.
+ Đối với nền đắp, công tác lên khuôn đường bao gồm việc xác định độ cao đắp đất tại tim và mép đường, xác định chân ta luy. Các cọc lên khuôn đường ở nền đắp thấp được đóng tại vị trí cọc H và cọc phụ, ở nền đắp cao được đóng cách nhau 20 - 40m và ở đường cong cách nhau 5 - 10m.
+ Đối với nền đào, các cọc lên khuôn đường đều phải dời ra khỏi phạm vi thi công, trên các cọc này sẽ ghi lý trình và chiều sâu đào.
- Công tác thoát nước khu vực thi công: Thực hiện tất cả các công việc có liên quan đến sự ổn định nền của nền đường trước khi thi công bao gồm các công việc bao gồm: Công việc xử lý thoát nước cục bộ nền đường, đào các rãnh thoát nước, khơi thông cống và rãnh thoát nước hiện có, hạ các mực nước ngầm, nước mặt cần thiết cho quá trình thi công được tốt, đảm bảo chất lượng công trình.
* Công tác thi công đào đất: Trên nguyên tắc thi công chủ yếu bằng cơ giới là chính để đảm bảo chất lượng và kết hợp với thủ công trong công tác hoàn thiện hoặc những hạng mục mà máy móc không thể thi công được.
* Biện pháp thi công:
- Khối lượng thi công nền đường đào chủ yếu bao gồm: Đào đất nền đường, đào cấp, đào đất hữu cơ, đào đất khuôn nền đường…. Tại các vị trí nền đào biện pháp thi công chủ yếu sử dụng máy xúc kết hợp với máy ủi, ủi từng lớp từ phía nền đào sau đó vận chuyển sang phía nền đắp. Trong quá trình thi công sẽ cân đối khối lượng đất đào (đã bỏ phần đất hữu cơ) và khối lượng đất tận dụng để đắp cho phù hợp với thực tế, lượng đất đào thừa ra sẽ được xúc trực tiếp lên ô tô đổ tới vị trí quy định.
- Đào khuôn đường: Công tác đào khuôn đường được thực hiện tại các vị trí nền đường đào, khuôn đường được đào và xáo xới bằng máy đào, kết hợp máy san đào tạo khuôn đường tại các vị trí nền đất. Sau khi tạo khuôn đường xong tiến hành lu lèn khuôn nền đường bằng lu rung đảm bảo độ chặt khuôn nền đường theo quy định. Khuôn nền đường thi công xong đảm bảo độ chặt, đúng cao độ kích thước hình học đồng thời có biên bản nghiệm thu khuôn đường trước khi chuyển bước thi công.
- Đào hữu cơ: Đào hữu cơ tại các vị trí nền đắp, lớp đất phủ bề mặt dày 30cm được bóc vỏ bằng máy ủi, đất ủi lên sẽ được gom đống sau đó xúc lên ô tô tự đổ vận
- Chuyển bằng máy xúc. Sau khi bóc bỏ lớp hữu cơ tiến hành vệ sinh bề mặt, nghiệm thu cao độ trước khi đắp đất nền đường.
- Trong quá trình thi công nếu có những vị trí nền yếu mà thiết kế chưa đề cập hoặc giải pháp xử lý chưa triệt để thì nhà thầu sẽ lập hồ sơ báo cáo TVGS và Ban quản lý dự án để phối hợp giải quyết nhằm đảm bảo chất lượng công trình.
- Xuất phát từ tình hình cụ thể về điều kiện thi công, diện tích thi công, máy móc thi công hiện có của Nhà thầu và phương pháp tổ chức thi công trong công tác đào đất nền đường.
- Công tác kiểm tra chất lượng và nghiệm thu:
+ Mọi mái ta luy, hướng tuyến, cao độ, bề rộng nền đường .v.v.. đều phải đúng, chính xác, phù hợp với bản vẽ thiết kế và qui trình kỹ thuật thi công, hoặc phù hợp với những chỉ thị khác đã được chủ đầu tư và TVGS chấp thuận.
+ Cao độ trong nền đào phải đúng cao độ thiết kế ở mặt cắt dọc với sai số cho phép là ±20mm, đo 20mét một mặt cắt ngang, đo bằng máy thuỷ bình chính xác.
+ Sai số về độ lệch tim đường không quá 10cm, đo 20m một điểm nhưng không được tạo thêm đường cong, đo bằng máy kinh vĩ và thước thép.
+ Sai số về độ dốc dọc không quá 0,25% của độ dốc dọc, đo tại các đỉnh đổi dốc trên mặt cắt dọc, đo bằng máy thuỷ bình chính xác.
+ Sai số độ dốc ngang không quá 5% của độ dốc ngang đo 20m một mặt cắt ngang, đo bằng máy thuỷ bình chính xác.
+ Sai số bề rộng mặt cắt ngang không quá ±10cm, đo 20m một mặt cắt ngang, đo bằng thước thép.
- Biện pháp đảm bảo chất lượng.
+ Trước khi đào hoặc đắp nền đường phải xây dựng hệ thống tiêu thoát nước, trước hết là tiêu nước bề mặt ( nước mưa, nước ao, hồ, cống rãnh...) ngăn khômg cho chảy vào hố móng công trình và nền đường. Phải đào mương, khơi rãnh, đắp bờ con trạch....để dẫn nước ra khỏi khu vực thi công.
+ Tiết diện và độ dốc tất cả những mương rãnh tiêu nước phải đảm bảo thoát nước nhanh. Tốc độ nước chảy trong hệ thống mương rãnh tiêu nước không được vượt quá tốc độ gây xói lở đối với từng loại đất.
+ Trong suốt quá trình thi công cán bộ kỹ thuật luôn theo sát để đảm bảo thi công đúng hướng tuyến, đúng kích thước hình học. Các bề mặt nền đường hoàn tất sẽ phẳng đồng đều, không vương vãi rác, đất....
+ Nền đào khi đào đến cao độ thiết kế được cán bộ kỹ thuật kiểm tra độ chặt nếu chưa đạt độ chặt thầu sẽ dùng máy đào cày xới và tiến hành lu lèn lại cho đến khi đạt độ chặt yêu cầu.
+ Nhà thầu sẽ kết hợp với Tư vấn giám sát kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật trước khi thi công hạng mục tiếp theo.
+ Việc thi công đào nền đường được tiến hành theo tiến độ và trình tự thi công có sự phối hợp với các giai đoạn thi công khác để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho công tác đắp nền đường và việc thoát nước trong mọi nơi và mọi lúc.
+ Cao độ mặt nền đường phải được sửa sang phù hợp với những yêu cầu qui trình thi công và nghiệm thu hoặc theo các chỉ tiêu kỹ thuật đã chỉ ra trong hồ sơ thiết kế đã được duyệt đưới sự chỉ dẫn của Tư vấn giám sát.
+ Những đống đất dự trữ phải vun gọn, đánh đống, sạch theo cách thức chấp nhận được, đúng vị trí và không ảnh hưởng đến dây chuyền thi công.
+ Vật liệu do Nhà thầu đổ đi không đúng qui định mà không được phép của TVGS thì Nhà thầu phải bố trí đổ lại cho đúng bằng kinh phí của Nhà thầu.
+ Công việc đào phải được tiến hành theo tiến độ và trình tự thi công có sự phối hợp với các giai đoạn thi công khác để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho công tác đắp
nền và việc thoát nước trong mọi nơi mọi lúc.
+ Công việc đào sẽ bị đình chỉ khi điều kiện thời tiết không cho phép rải và đầm đất đào đó trên nền đắp phù hợp với các chỉ tiêu qui định trong hồ sơ thiết kế đã được duyệt.
+ Cao độ mặt nền đường phải được sửa sang phù hợp với những yêu cầu qui trình thi công hoặc theo các chỉ tiêu kỹ thuật đã chỉ ra trong hồ sơ thiết kế đã được duyệt dưới sự chỉ dẫn của TVGS.
b) Đắp đất nền đường độ chặt K95 đến cao độ đáy bê tông lót bó gáy hè;
Trước khi tiến hành thi công Nhà thầu trình nên Tư vấn giám sát trình tự và qui trình thi công và nghiệm thu công tác đắp đất nền đường, khi tư vấn giám sát xem và chấp thuận Nhà thầu sẽ tiến hành triển khai thi công công tác đắp đất nền đường.
- Công tác thi công đắp đất nền đường.
+ Trước khi tiến hành đắp nền đường, Nhà thầu cắm lại hệ thống cọc tim và cọc hai bên mép phần xe chạy để xác định vị trí thi công cần đắp đất.
+ Nền đường đắp được thi công cơ giới kết hợp với thủ công nhưng chủ yếu là thi công bằng máy.
- Định vị tim tuyến, lên ga đường: Căn cứ vào thiết bị máy móc, nhân lực và điều kiện thời tiết, trước mỗi ngày thi công nền đường Nhà thầu sẽ tính toán chiều dài thi công để sau một ngày vật liệu không còn thừa chất đống hay vương vãi trên đường gây ảnh hưởng đến giao thông trên tuyến.
- Công tác đắp đất nền đường:
+ Trước khi thi công đại trà công tác đắp đất nền đường Nhà thầu tiến hành thi công thí điểm một đoạn dài 80-100m, đoạn thí điểm này phải là đoạn điển hình cho toàn bộ tuyến thi công và do Tư vấn giám sát chỉ định.
+ Vật liệu dùng cho đoạn thí điểm là các loại vật liệu phù hợp từ các mỏ đấp đắp, hoặc đất tận dụng từ đào nền đường ( các vật liệu này đã được thí nghiệm đạt tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật). Các thiết bị san gạt, đầm được dùng phải được TVGS chấp thuận.
- Công tác thi công thí điểm, san rải đất đắp nền đường:
+ Tiến hành đổ vật liệu đảm bảo tiêu chuẩn xuống đoạn thi công bằng ô tô tự đổ, khoảng cách các đống đổ được tính toán sau cho sau khi san và lu lèn được chiều dày yêu cầu không gây dư thừa đất trên tuyến.
+ San phẳng bằng máy ủi (hoặc máy san). Trong quá trình san ủi, đất được san nghiêng ra hai bên mép nền đảm bảo độ dốc theo thiết kế để có thể thoát nước tốt khi có mưa.
+ Trước khi đắp phải đảm bảo đất nền cũng có độ ẩm trong phạm vi khống chế.
Phải đánh xờm mặt nền rồi mới đổ lớp đất tiếp theo. Phương pháp xử lý mặt nền cần xác định tuỳ theo loại đất cụ thể trên thực địa.
+ Phải đảm bảo lớp đất cũ và lớp đất mới liên kết chắc với nhau, không có hiện tượng mặt nhẵn giữa hai lớp đất, bảo đảm sự liên tục và đồng nhất của khối đất đắp.
- Công tác đầm lèn đất đắp nền đường: Việc đầm thí điểm tại hiện trường được tiến hành cho đến khi TVGS chấp thuận về các thao tác cần thiết để đạt được độ chặt yêu cầu. Sự thống nhất cho loại lu, trình tự lu và số lượt lu yêu cầu để đầm một lớp có chiều dày cho sẵn. Giới hạn độ ẩm của đất trong thời gian đầm được ghi lại và là cơ sở cho việc kiểm tra độ ẩm công việc đầm tại hiện trường.
- Phương pháp đầm dự kiến: Đối với đắp đất nền đường bằng thủ công, được áp dụng cho những đoạn khối lượng đắp ít, dải đất hẹp, không thể thi công bằng máy.
Dùng nhân công san thành từng lớp có bề dày ~ 12 cm để sau khi đầm lớp có bề dày tối đa =10cm. San đến đâu đầm ngay đến đó bằng lu rung loại nhỏ 0,7 T, hoặc đầm cóc; Đối với các vị trí chiều rộng Nhà thầu tiến hành dùng tổ hợp (Máy san hoặc máy ủi, máylu sắt, lu rung) Trình tự thi công như sau:
+ Máy ủi vừa san vừa đầm sơ bộ + Dùng lu bánh sắt 8 -12T lu sơ bộ
+ Dùng máy san san gạt phẳng, tạo độ dốc ngang.
+ Dùng lu rung đầm lèn tới độ chặt thiết kế.
+ Khi đầm, đầm theo hướng dọc tim đường, đầm từ mép ngoài vào tim đường trên đường thẳng và từ phía bụng lên lưng trên đường cong. Chiều rộng vết đầm phải chồng lên nhau ít nhất 20cm đối với đầm bằng máy và 1/3 vết đầm trước đối với đầm cóc.
+ Đất đắp thành từng lớp, lu lèn xong lớp dưới, thí nghiệm đảm bảo độ chặt yêu cầu và được kỹ sư chấp thuận mới tiến hành đắp lớp tiếp theo. Mỗi lớp đắp có chiều dày san đất thành từng lớp theo thi công thí điểm.
+ Trước khi đắp lớp tiếp theo phải đánh xờm bề mặt lớp đã đắp trước bằng thủ công.
+ Đối với đắp đất nền đường bằng thủ công, được áp dụng cho những đoạn khối lượng đắp ít, dải đất hẹp, đắp cấp, không thể thi công bằng máy. Dùng nhân công san thành từng lớp có bề dày theo thi công thí và tiến hành đầm lèn bằng lu rung loại nhỏ 0,7 Tấn hoặc bằng đầm cóc đến độ chặt thiết kế.
+ Dù cho máy chuyển động theo sơ đồ nào thì tất cả mọi điểm phải nhận được công đầm lèn tối thiểu như nhau để tránh gây lún cục bộ.
+ Trong khi lu thì người cán bộ kỹ thuật phải quan sát nếu thấy đất trồi dạt trước bánh lu thì phải cho ngừng lu vì độ ẩm quá cao. Những chỗ đất bùng nhùng, nước láng lên trên mặt phải hớt đi và thay ngay bằng đất cùng loại và phù hợp độ ẩm.
+ Những chỗ tiếp giáp phải được lu lèn cẩn thận tránh hiện tượng mối nối gồ gề, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật.
+ Sau khi đắp xong một lớp tiến hành thí nghiệm độ chặt, khi đạt độ chặt yêu cầu mới tiến hành thi công lớp tiếp theo (có chứng kiến của Chủ đầu tư và tư vấn giám sát).
+ Khi lu lèn xong đoạn thí điểm Nhà thầu tiến hành nghiệm thu nội bộ sau đó Nhà thầu mời Tư vấn giám sát kiểm tra và nghiệm thu. Nếu đạt yêu cầu sẽ tiến hành thi công đại trà.
+ Trình tự thi công đại trà được tiến hành như đối với thi công thí điểm đã được Tư vấn giám sát chấp thuận.
- Hoàn thiện nền đắp:
+ Công việc hoàn thiện nền đường được triển khai khi thân nền đường đã cơ bản đạt được các yêu cầu về đầm, cao độ đắp và kích thước hình học khác.
+ Để đảm bảo độ phẳng và mui luyện Nhà thầu sử dụng nhân công gạt sửa theo đúng yêu cầu thiết kế.
- Công tác kiểm tra, nghiệm thu:
+ Trong suốt quá trình thi công nền đường, Nhà thầu đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm tra chất lượng thi công. Các hạng mục ẩn dấu nhất thiết phải thông qua
+ Kết quả kiểm tra nghiệm thu của cán bộ Tư vấn giám sát, đặc biệt việc kiểm tra độ chặt của từng lớp đất đắp nền đường.
+ Công tác kiểm tra bằng máy kinh vĩ thường xuyên trong suốt thời gian thi công cho từng đoạn và kiểm tra tổng thể khi hoàn thành công tác đắp.
+ Cao độ tim nền đường và mép lề đường được kiểm tra bằng máy thuỷ bình đối với tất cả các mặt cắt chính từ số liệu này kết hợp bề rộng nền đường sẽ kiểm tra được độ dốc ngang.
+ Độ phẳng nền đường kiểm tra bằng thước dài 3m.
+ Chiều rộng nền đường được kiểm tra bằng thước thép.
+ Mọi mái ta luy, hướng tuyến, cao độ, bề rộng nền đường.v.v.. đều phải đúng, chính xác, phù hợp với bản vẽ thiết kế và qui trình kỹ thuật thi công, hoặc phù hợp với những chỉ thị khác đã được chủ đầu tư và Tư vấn giám sát chấp thuận.
+ Cao độ trong nền đắp (tại mép và tim đường) phải đúng cao độ thiết kế ở mặt cắt dọc với sai số cho phép là ±2cm, đo 20mét một mặt cắt ngang, đo bằng máy thuỷ bình chính xác.
+ Sai số về độ lệch tim đường không quá 10cm, đo 20m một điểm nhưng không được tạo thêm đường cong, đo bằng máy toàn đạc + gương sào.
+ Sai số về độ dốc dọc không quá 0,25% của độ dốc dọc, đo tại các đỉnh đổi