Chương 8 NGHỆ THUẬT THỜI ĐẠI PHỤC HƯNG
2. ĐIÊU KHẮC BARỐC Ở ITALIA
Rôma là trung tâm văn hóa quan trọng nhất, là bộ mặt của Italia thế kỷ XVII. Ở Ilalia lúc này, Giáo hoàng và Giáo hội là có quyển tối thượng, các đời giáo hoàng đéu sử dụng nghệ thuật làm phương tiện phô trương thanh thế cho Rôma và uy tín cho nhà thò.
Hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc đã bổ sung cho nhau để tạo nên một Rôma hoành tráng, lộng lẫy, nguy nga một thòi, trong đó điêu khắc đã đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Franỗois Souchal cho ràng điờu khắc Barốc là sõn khấu cựa cỏi trỏc tuyệt và: "điờu khắc phóng chiếu và cắt vật chất thành hình khối trong không gian, đó là một nghệ thuật mang đẩy tính thách thức và tính tượng trưng".
Nói đến nghệ thuậl điêu khắc Barốc không thể không nói đến Gian Lorenzo Bernini ( 1598-1680), nhà điêu khắc, kiến trúc sư, họa sĩ Italia gương mật nổi bật của phong trào Barốc Italia và có ảnh hướng kiến tạo lớn nhất dối với phong trào này. Ông đã học ờ cha mình khá năng xử lý các khối đá cẩm thạch, cha ông Pietro Bernini (1562-1629) là một nhà điêu khắc Iheo phong cách Thù pháp có chút tiếng tăm. Khoảng từ nãm 1618 đến 1625 õng dã ihực hiện một loạt tượng cấm thạch to bằng rrgười thật cho Hồng Y Giáo chú Cardinal Scipione Caffarelli Borghese. ông này đồng (hội cũng là người bào trợ cho Bernini. Những tác phẩm này chứng tỏ tài nâng trước tuổi của ông trong việc xử lý vật liệu này và thể hiện sự đoạn tuyệt hẳn với truyền thống Thủ pháp chủ nghĩa Hậu kỳ đang thịnh hành lúc bấy giờ qua sức mạnh và chuyền động trong những bức tượng của ông.
Những tác phám này đã dem đến danh tiếng đầu tiên cho ỏng, õng được ví là
"Michclangelo ớ thời đại của minh", hiện nay các tác phẩm này đang được trung bày ớ phòng irưng bày của biệt Ihự Borghese - Rõma, những tác phẩm đó [à "Aeneas và Anchises" (1618-1619), "Bát cóc Proserpine" (1621-1622), "David" (1623), "Apollo và Daphne" (1622-1625).
Sau khi Maffeo Barbcrini được báu làm giáo hoàng Urban VIII vào năm 1623 thì Bernini trớ thành nghệ sĩ chính cho triều đình Giáo hoàng và Rôma. Năm 1629 ông được cứ làm kiến trúc sư cho nhà ihờ Peter và ông đã xây cái tán che lớn trên bàn Ihờ chính (1624-1633) và bức lượng đồ sộ của Thánh Longinus (1629-1638) đứng trên một cây cột ớ chỗ hành lang gặp nhau. Ông cũng giám sát việc trang trí nội thái xa hoa bằng cẩm thạch và xây ngôi mộ cho giáo hoàng Urban VIII (1628-1647). Sau đó giáo hoàng Innocent X lẽn thay, ông đã không được làm nghệ sĩ cho triều đình vì một phần do thất bại trong việc xây dựng các ngôi tháp bên cho nhà thờ Peter và một phần do thị hiếu nghệ Ihuậl cùa giáo hoàng mới này nghiêng về đối thủ của ông là Algardi hơn. Trong thời gian này ông dã thực hiện nhóm tượng cẩm thạch "Sự xuất thẩn cúa Thánh Teresa"
(1645-1652) cho nhà nguyện Comaro. Cũng trong thời gian này ông thực hiện điêu khắc chán dung cho Giáo hoàng và thiết kế Đài phun nước bốn dòng sông (1648-1651) ớ quảng trường Navona, đây là đài phun nước nổi tiếng nhất và đẹp nhất của ông. Ông là người có cõng lớn irong việc thể hiện bộ mặt ấn tượng, uy quyề" nguy nga cho Rôma.
Năm 1655 Giáo hoàng Innocent X mất, Alexandre VII lên thay, Bcrnini lại được sứ dụng. Theo lệnh cùa Giáo hoàng mới. ông trang trí hậu cung cho nhà thờ Peter với phần tượng Tố phụ của giáo hội đỡ cái Ngai đá. Công trình này và hành lang cột ihức quanh quáng Irường của nhà thờ được Bernini khởi công năm 1656.
Ông còn là một hoạ sĩ chỉ vẽ để mua vui, một số tranh tiêu biểu cùa ông hiện ở National Gallery - London, và Viện hảo tàng Ashmolean, Oxford. Ông được coi là một trong những nghệ sĩ vĩ đại, một người khổng lồ của phong trào Barốc.
Những tác phẩm điêu khắc cùa Bernini có một sức sống mãnh liệt, như chuyển động trước mắt chúng ta, như chộp lại được khoảng khắc tức [hời của động tác, cố định được ớ điểm cao trào. Nhà điêu khắc tài ba đã thổi vào tác phẩm một nhịp sống dạt dào, môt sức mạnh áo tướng làm cho người chiêm ngưỡng phải dồn hết tâm trí vào tác phẩm.
Gian Lorenzo Bernini, Gia/1 Lorenzo Bernini, Aeneas và Anclúses (1618-1619). Bắt cóc Proserpine (1621-1622), Dá cẩm thạch, 220cm, Pliòng trưng bày Đá cẩm thạch, 255cm, Phòng trưng bày
cùa biệt thự Borglìese - Rôma. cùa biệl thụ Borghese - Rôma Tác phẩm "Aeneas và Anchises" (1618-1619), phòng trưng bày của biệt thự Borghese - Rôma là một tác phẩm được thể hiện bằng dá cẩm thạch, miêu tả huyển thoại hình thành đế quốc La Mã hùng mạnh. Theo miêu tà Aeneas bay từ thành Troy dến hướng dẫn xây thành Rôma, Aeneas tượng trưng cho tổ tiên của Nhà thờ và Giáo hoàng.
Tác phẩm "Bắl cóc Proserpine" (1621-1622), phòng trưng bày của biệt thự Borghe.se - Rôma là tác phẩm miêu tả việc bắt cóc nữ thần tương lai cùa địa ngục. Ớ đây có sự tương phàn với phong cách Phục hưng, so với tác phẩm "Bắt cóc phụ nữ Sabine"
cùa Giambologna, Bemini làm giám bớt hình phối cành của tác phẩm, ớ mặt trước và nứa trái, tãng cường tính trực tiếp, gẩn gũi của sự kiện.
Tác phẩm "David" (1623), phòng trưng bày của biệt thự Borghese, Rôma, được làm bằng đá cẩm thạch, miêu tả David ở tư thế chống lại kẻ thù của mình là tên khổng lổ dâm đãng. Người xem cảm nhận được sự chuyển động mạnh mẽ của nhân vật, sự việc như được chụp lại trước mắt người quan sát. Cây đàn Lia nằm trên nền, trước mặt David biểu hiện sự trẻ trung cùa David, cùng với sự can đảm và sức mạnh của mình, David hiện ra là một chàng trai trẻ trung đầy nhiệt huyết và sức sống.
Tác phẩm "Apollo và Daphne" (1622-1625), phòng trưng bày của biệt thự Borghese - Rôma, đây là tác phẩm nổi tiếng nhất của những tác phẩm điêu khắc ờ biệt thự Borghese, đề tài mượn từ kho thần thoại Hy Lạp, tường thuật lại cảnh hóa thân của Daphne trong sự níu lấy của Apollo. Một lần nữa ta lại bắt gặp sự vận động trong điêu khắc của Bemini, Apollo với tình yêu say đắm đang níu giữ Daphne, nàng đang hóa thân thành cây nguyệt quế, nàng trờ thành sức mạnh thiên nhiên trong hình thê cây nguyệt quế thần thánh. Người xem phải ngẩn ngơ và xúc động trước sức hấp dản của tác phẩm.
Gian Lorenzo Bernìnĩ, David, 1623, Đá cầm thạch, I70cm, Phòng trưng bày
cùa biệl tliự Borglìese - Rôma
Gian Lorenzo Bernini, Apollo & Dapline, 1622-1625, Đá cẩm thạch, 243cm, Phòng trưng bày cùa hiél thự Borghese - Rôma.
Tiếp iheo là tác phẩm được Bernini cho là thành công nhất trong sự nghiệp của õng, tác phẩm "Sựxuất thẩn cùa nữ thánh T eresa" (1645-1652) làm cho nhà nguyện Comaro của nhà thờ Santa Maria della Vittoria ờ Rôma. Đây là công trình tương dối nhỏ nhưng là một điển hình xuất sắc của ý định và thành công cùa ỏng trong việc hợp nhất điêu khác, kiến trúc, hội họa vào một tổng thê trang trí tráng lệ. Tác phẩm miêu tả cảnh đua nàng Teresa - một người phụ nữ Tây Ban Nha huyền bí của thế kỷ XVI vể thiên giới. Ta hãy ngắm nữ thánh Teresa, mũi tên vàng ngưng vào đúng khoảnh khắc một tích tắc của nó sắp xuyên ngập úm nữ thánh và trong tích tắc ấy, mọi người thấy được vẻ xuất thần làm bừng sáng nét mật nàng. Nghệ thuậl dàn dựng ánh sáng huyển bí từ một nguồn kín được những kính màu làm dịu đi. đem lại một sự chói lọi kì diệu cho nhóm tượng.
Bernini sử dụng tính tương phàn lập lờ, ảo ảnh để dàn dựng cảnh tạo cho tác phẩm mộ!
sức hút lạ kì đưa nó lén hàng kiệt tác của nền điêu khắc Barốc. Thánh Teresa nửa nằm nứa ngồi trên một đám mây, một thiên sứ lanh lợi, đáng yêu có đôi cánh dài đang nâng mũi tên vàng là chú đề chính của tác phẩm. Bemini đã dùng kim loại làm thành ánh sáng mật trời. Điểm đáng chú ý cùa Bemini là gắn cho Teresa hình ảnh là một thiếu nữ.
Ông đã đem mê muội cùa tôn giáo biến thành khát vọng của tình yêu, phản đối tinh thần cấm dục cúa Giáo hội. Chính vì vậy tác phẩm đã khuấy động được cảm xúc cùa đông đáo người xem.
Gian Lorenzo Bernini, Sự xuất thần cùa Iiữ thánh Teresa,
Đú cẩm thạch, cao 350cm, 1647-1652, Nhà lliờ S.Maria deìỉa Villoria - Rõma.
235
Điêu khắc Barốc Italia không chì giới hạn ở sân khấu tôn giáo thiêng liêng mà nó còn phục vụ cho các đề tài tôn vinh sự tráng lệ của Rôma như trong các quảng trường đô thị Rõma.
Tác phẩm "Đài phun nước bốn dòng sông" ở quảng trường Navona, Rôma do Bernini sáng tác là một kiệt phẩm. Đài phun nước nằm tại trung tâm của quảng trường, trước đáy quảng trường này là một khòng gian hoa lệ, nguy nga chưa từng có thời bấy giờ nhằm phục vụ người dân thành phố và những vị khách mời quan trọng đồng thời biếu hiện được sức mạnh của Ròma trước các nước trên khắp Ihẽ' giới. Đài phun nước nằm dưới chân cột tháp, gồm bốn vòi phun nước tượng trưng cho bốn dòng sông ớ thiên đàng. Bernini tạc đá thành những gò và tạo hang ờ giữa, ờ chân bốn vách đá có bốn dòng sông thần tượng trưng cho bốn lục dịa. Sông Ganges tượng trưng cho châu Á, sõng Nile tirợng trưng cho châu Phi, sông Plate tượng trưng cho châu Mỹ, sõng Danube tượng trưng cho châu Au.
úian Lorenzo Bernini, Chi riết Dài phun nước bốn dòng sông, Đá cẩm rliạcli, 1648-1651, Quảng trường Navona - Rôma.
"Dài phun nước Trevi", 1732-1751. Đài phun nước Trevi là tác phẩm cuối cùng lớn Iili.il dược làm bởi sự hợp tác của các nhà điêu khắc Rôma. Đài phun nước được làm dựa (lull phương án cùa Nicola Salvi (1697-1751). Mặt đứng nguy nga phía trước Palazzo 1'oli theo kiểu cổng khải hoàn La Mã với hốc tường bán nguyệt to nằm ớ trung tâm. Hốc lường bẽn trái tượng trưng cho sự giàu có, còn hốc tường bên phải tượng trưng cho sức khóe. Cá hai dều do Fillippo della Valle (1697-1770) làm, õng được đào tạo do chú mình là Giovanni Battista Foggini, sau khi chú mất ông làm việc cho Camillo Rusconi ớ 236
Rôma và đã tạo cho mình một phong cách riêng. Phù điêu đắp nổi phía trên bên trái là do Giovanni Grossi làm, còn bẽn phải do Andrea Bergondi. Ớ hốc tường trung tâin, Hải thần và những cư dân của mình đang đứng trên một cái vỏ sò, xung quanh là thần nửa người nứa cá và những chú ngựa trợ giúp. Nhóm tượng này được thực hiện bời Pietro Bracci dựa theo thiết kế của Giovani Battista Maini (1690-1752). Đài phun nước Trevi được coi là tác phẩm cuối cùng của Barốc Italia.
■ *tằ.
.., Ể Ẩ f c ,w£ạ ..
„ rfr - - „>
Nicola Salvi và Iihững nghệ sĩkliác, Đài phun Iiước Trevi, ¡732-1751.
Dá cẩm thạch, Palazzo Poli - Rỗma.
Quả thật đặc tính nổi trội ờ điêu khắc Barốc là sự vận động mạnh mẽ, biểu hiện niềm say mê, khuấy động con người đúng như đánh giá vể nghệ thuật Barốc là "Nghệ thuật Barốc muốn nắm bắt hiện thực giữa lúc đang vận động còn nghệ thuật cổ điển lại giữ hiện thực ở thế bất động..." (Peter Skrine).
Franỗois Souchal đó đi đến kết luận như sau: "Điờu khắc Barốc khũng chỉ giới hạn ớ những hổi lớp lớn được trình diễn luyệt vời đó của sân khấu tôn giáo thiêng liêng. Nó náy sinh từ lòng thành kính tôn giáo, nó là nghệ thuật thiêng liêng cuối cùng xướng với cái tên ấy của phương Tây Cơ đốc. Nhưng xã hội Barốc cũng gắn liền với một hệ thống cai trị: hệ thống quân chù ít nhiều chuyên chế, tuỳ theo truyền thống và lịch sử của từng vương quốc. Và nếu điêu khắc Barốc phục vụ Nhà thờ, thì nó cũng phục vụ cái xã hội quân chủ và quý tộc ấy, cung cấp sự trang trí cần thiết cho nghi thức tế lễ hoàng cung và vương già: ờ mặl trước các cung diện, trẽn lường và các phòng tiếp tàn. dọc những lối đi
trong vườn, giữa những bể nước và vòi phun nước, nền điêu khắc ấy lớn tiếng tuyên bô những ưu điểm của một thể chế chính trị mãi về sau này mới bị lung lay trước sự phê phán của các "triết gia" thời đại "ánh sáng".