HỘI HỌA Ở ITALIA, TÂY BAN NHA, PHÁP THẾ KỶ XVII

Một phần của tài liệu Giáo trình Lịch sử nghệ thuật (Tập 1): Phần 2 (Trang 101 - 121)

Chương 8 NGHỆ THUẬT THỜI ĐẠI PHỤC HƯNG

3. HỘI HỌA Ở ITALIA, TÂY BAN NHA, PHÁP THẾ KỶ XVII

Suốt giai đoạn thế kỷ XVII, nghệ thuật được phái triển nhằm phục vụ mục đích chinh trị và phục vụ cho phong trào chống cải cách nhà thờ hoặc ca ngợi thể chế cai trị Cùng thời gian đó, sưu lập tranh là một sớ thích cùa giới quý tộc, quan lại, nhà vua và giai cấp tư sản. Các họa sĩ thường tập trung ờ các trung tâm lớn như Paris (Pháp).

Madrid (Tây Ban Nha), Rôma (Italia) hoặc những nơi kinh tế và thương mại phát triển như Napoli hay Seville.

• Hội họa ủ Italia

Rôma là trung tâm quan trọng nhất ớ Italia thế kỷ XVII, nhất là từ khi giáo hoàng Urban VIII lẽn ngòi năm 1673 thì đây là Thời đại vàng cùa hội họa Italia vì Giáo hoàng này là người rất thân thiện và rất tiến bộ, phóng khoáng. Lịch sử hội họa của Rôina chú yếu là lịch sử của mỹ thuật bảo trợ của các Giáo hoàng, các Giáo hoàng tliường là những người bảo trợ cho các họa sĩ vẽ phục vụ cho các nhà thờ, làu đài, quàng trường. Các Giáo hoàng thường triệu tập các họa sĩ nổi tiếng từ khắp nơi đến để vẽ các tác phấm, ví dụ như trường hợp hai họa sĩ Pháp Poussin và Claude Lorrain cũng được mời tới và sổng ớ Rôma hay họa sĩ Tây Ban Nha Velazquez cũng đã ờ Rôma hai lần. Nển hội họa Barốc ở Italia thế kỷ XVII có những nhân vật tiêu biểu như Caravaggio, Anibal Carraci, Domenichino, Reni, Pietro da Cortona...

Ớ Rôma lúc bấy giờ tổn lại song song hai trường phái nghệ thuật, đó là trường phái nghệ thuật La Mã và trường phái nghệ thuật Học viện. Trường phái nghệ thuật La Mã dược Caravaggio, Anibal Carraci phát triển lén đến cực độ, vượt ra khỏi châu Âu. Cuộc cách mạng trong hội họa của Caravaggio có đặc điểm nổi bật là hiện thực gây cảm xúc mạnh, thiêng liêng hóa cái bình thường còn Anibal Carraci là theo phong cách nghệ thuật của Raphael, trong hội họa của mình ông đưa các nhân vật trong tranh lại gấn không gian cùa người xem bàng cách làm cho người xem có ảo giác vể sự tiếp nối cùa không gian thực. Mặc dù phong cách khác nhau nhung cà hai đã là những người tiên phong và làm sống lại nền hội họa Italia từ sự hỗn loạn mơ hồ của phong cách Thủ pháp thế kỷ XVI và làm cho nó phái triển mạnh mẽ và bắt rễ khắp nơi. Phong cách của Caravaggio, Anibal Carraci đã hình thành trào lưu ba quan niệm trong những (rào lưu cơ bản cùa hội họa La Mã ihế kỷ XVII đó là: thứ nhất là huyền ảo và tráng lệ, Ihứ hai là chú trọng thế hiện màu sắc và thứ ba là quan tâm đến những hình thể được giái phóng trong không gian, nó làm ta liên tướng đến phong cách cua nhà điêu khắc Bernini.

Trường phái nghệ thuật Học viện cũng gây ảnh hường lớn đến nhiều họa sĩ trên thế giới, thành viên của nó không chí là các họa sĩ địa phương mà còn có cả các họa sĩ nước ngoài như Velazquez, Poussin, Claude Lorrain.

238

Ở đây ta đẻ cập đến hai họa sĩ nổi tiếng, gây ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật ờ Italia thế kỷ XVII là Caravaggio và Aníbal Carraci.

C aravaggio (M ichelan gelo M erisi 1570-1610) là họa sĩ có ảnh hưởng nhất thế kỳ XVII, quê gốc Lombardie, được lấy tên theo thị trấn Caravaggio gần Bergamo. Ông học được những kinh nghiệm ớ các họa sĩ lớn như Lotto, Savoldo và các họa sĩ Venise.

Năm 1592 ông tới Rôma, ở đây Caravaggio đã thực hiện cẩn thận những đơn đặt đầu tiên. Có thể chia hội họa cùa ông iàm hai giai đoạn trong thời gian õng ờ Rôma: thời kỳ ihử nghiệm đầu tiên (1592-1599) và thời kỳ ihuần thục (1599-1606) trong đó ông thực hiện được nhiéu cõng trình lớn.

Các tác phẩm giai đoạn đầu thường là các bức tranh cỡ nhỏ như các bức Bacchus trẻ (1595, Uffizi, Firenze) và Cậu bé với giỏ trái cây (1595, phòng trưng bày biệt thự Borghese, Rôma). Tranh của õng thời gian sau đó mềm dẻo hơn và mạch lạc hơn với màu sắc đậm đà với bóng nổi được nhấn mạnh như tác phẩm "Bữa ãn tối ở Emmaus"

khoảng nãm 1598-1600 (hiện lưu giữ ờ Bảo tàng quốc gia, London).

Đánh dấu cho giai đoạn thứ hai của ông ớ Rôma là hai tác phẩm "Sự kêu gọi cùa thánh Matthieu" và "Sự tuẫn đạo cùa thánh Matthieu" khoảng từ năm 1599-1600 vẽ cho nhà nguyện Cotarelli trong nhà thờ S.Liugi dei Francesci. Tranh bàn thò "Thánh Matthieu và thiên thẩn" bị từ chối vì người ta nghĩ nó thiếu đúng đắn và nó lại được hẩu tước Vincenzo Giustiniani mua lại. Thời gian tiếp đó ông đã vẽ hai bức cho nhà nguyện Cerasi ớ nhà thờ St Maria del Popolo, hai bức này là "Đóng đinh thánh Pierre" và

"Thánh Paul quy đạo" khoảng năm 1600-1601. Hai bức tranh này gây cho mọi người ngạc nhiên vì hình ảnh mạnh mẽ, vì nó đưa ra một cái nhìn mới mẻ về các đé tài cũ. Từ thời gian này trở đi ông hầu như chỉ vẽ tranh tỏn giáo khổ lớn như bức "Hạ huyệt"

(1602-1604, Vatican), "Đức bà cùa Loreto" (Tu viện S.Agostins, Rôma, 1603-1605),

"Đức bà của Palapenicri" (1605-1606, phòng trưng bày của biệt thự Borghese, Rôma),

"Cái chết cùa Đức mẹ đồng trinh" (1605-1606, Le Louvre, Paris).

Năm 1606 ông rừi Rõma và trong bốn năm cuối đời ông đã đi từ Napoli tới Malta và Sicilia rồi lại trờ vể Napoli. Ông tiếp tục vẽ tranh tôn giáo khổ lớn nhưng phong cách lúc này đã thay đổi: dùng ít màu, màu mỏng. Cốt chuyện đỏng người và chuyển động dày đặc trong các bức (ranii trước theo phong cách Rôma được thay bằng sự yên lặng và sự sâu lắng. Đáng chú ý nhất trong lọat tranh này là bức "Trảm thủ thánh Jean Baptiste (1608, Nhà thờ Valetta, Malta). Năm 1610 ông mất vì bị bệnh sốt rét rừng khi trẽn dưừng Irớ vể Rôma. Cuộc đòi hoại động nghệ thuật của ông ngắn ngủi nhưng sôi nổi.

búi pháp của ông được nhiều nghệ sĩ noi theo, dặc biệt là cách cường điệu của ông đế làm nối bật tính cách hiện thực gây cảm xúc mạnh đã có ảnh hướng mạnh đối với nén hội họa Rỏma trong thập niên đẩu thế kỳ XVII, phong cách cùa õng bám rẻ chắc ớ Napoli Irong những năm õng ớ đây, thê hiện qua sự ảnh hướng đối với các họa sĩ như Curacciolo, Artemisia Gentileschi, và Ribera, một họa sĩ gốc Tây Ban Nha. Trong những [lãm 1620 ớ Róma phong cách của õng không còn được ưa chuộng nữa nhưng các nơi khác ớ châu Âu ảnh hướng của ông vẫn kéo dài, dặc biệt là Sicilia, Utrecht, Lorraine, nó

kéo dài đến tận những năm 1650. Ba nghệ sĩ Baburen, Honthorst và Terbrugghen đã biến Utrecht thành một trung tâm ảnh hưởng cùa Caravaggio ở Hà Lan, ta còn có thể thấy tiếng vang cùa phong cách Caravagisme trong các tác phẩm của những người khổng lồ trong nền nghệ thuật thế kỷ XVII như Rembrandt, Rubens và Velasquez.

Caravaggio, Cậu bé và giỏ trái cậy, 1595, Sơn dâu, 70 X 67cm, Phòng trưng bày Borghese, Rôma.

Caravaggio, Người chơi dán Lute, 1596, Sơn dầu, 94 X 119cm, Saint - Petershourg - Ermitage.

Nhân vật trong tranh là một Ihanh niên trông yểu điệu và lãng mạn nhu một thiếu nữ, với những đường cong lả lướt từ bàn tay qua cây đàn, ánh mắt, nét mặt. Chàng trai có một nỗi buồn man mác, hình như là một cảm thức mơ hồ vể tuổi thanh xuân, sớm nớ tối tàn như bình hoa trước mật. (Wendy Beckett - Những câu chuyện hội họa).

, V t í

ũùềrm

Caravaggio, Bữa ủn toi ỞEmmaus, Sơn dầu, khoáng năm 1598-1600, 141*196,2ctn, Bào tàng quốc gia, London.

Trong bức vẽ "Bữa ãn tối ở Emmaus", Caravaggio đã vẽ Chúa như một con người thật, một người giữa mọi người bình thường ờ dời. Chúa với khuòn mặt báu bĩnh, khỏe mạnh, chất phác, không có râu, không quý phái. Không có hào quang trẽn đầu nhưng ánh sáng tự nhiên đã phái toả từ gương mặt và tà áo khoác vai của Chúa chiếu xuống mặt bàn. (Wendy Beckett - Sách đã dẫn).

Caravaggio, Đóng đinli Thánh Pierre, Caravaggio, Hạ huyệt, Sơn dầu.

Sơn dáu, 1600-1601, 230 X 175cm, 1602-1604, 300 x 203cm, Vatican.

Nhà lliờ Santa Maria de! Popolo - Rôma.

A níbal C arraci (1560-1609) và em là Augustin Carraci là những họa sĩ đã thành lập Học viện mỹ thuật Incamminati. Mục đích của việc thành lập học viện này là truyền bá và bào vệ những nguyên tắc cơ bàn của nén nghệ thuật cổ điển vĩ đại, cổ súy quan sát trực tiếp thiên nhiên và trung thành với các bài học của thời c ổ đại. Năm 1597 việc trang trí phòng lớn của cung điện Famèse đã là một bản tuyên ngôn của xu hướng này.

• Hội họa Tây Ban Nha

Trung tâm vãn hóa Tây Ban Nha lúc này là Madrid, là trung tâm trẻ nhấl của những trung tâm vãn hóa châu Âu. Mãi đến nãm 1561 khi vua Philip II (1556-1598) lên ngôi thì ông quyết định chọn Madrid làm thủ đó vì nó nàm ờ vị trí trung lâm cùa đất nước và khí hậu tốt.

241

Aiúbal Can aci, Trang trí phỏng lớn Farnese 278xl73cm, 1600,

Palazzo Farnese - Rõma

Anibal Carraá, Đức mẹ Madona cùa thánh Louis, Sơn dáu, 278xI73cm,

1587-1588, Bologne.

Khách hàng chù yếu cho nghệ thuật là giới quí tộc và nhà thờ, nhà vua cũng là người bào trợ chú yếu cho các họa sĩ. Ngoại trừ tranh tôn giáo thì tranh chân dung và tranh tĩnh vậi là loại Iranh có nhu cầu lớn nhất. Tranh thẩn thoại cũng là chủ đề được yêu thích nhưng nó ít dược mua vì sự kiểm tra cùa chính quyền, vì định kiến từ nhà thờ và chính quyền cho rằng dây là loại tranh không đứng đắn, không hợp với khuôn phép.

Trong khi chính trị và kinh tế Tây Ban Nha có sự bắt đẩu suy thoái thì ngược lại, văn học và hội họa Tây Ban Nha lại bước vào một thời đại mới gọi là "Thời đại vàng". Nghệ Ihuật Barôc vốn bắt rễ rấl sâu vào trong kiến trúc Tây Ban Nha, lúc đó phát triển mạnh tiếp tục vào hội họa với một đặc chất riẽng biệt, độc đáo kiểu Tây Ban Nha, mà tính nổi trội của nó chính là sự trang nghiêm, vẻ huyền bí cùng với tính hiện thực.

Những nhân vật tiêu biểu cho hội họa Tây Ban Nha có thể nói đến Jusepe de Ribera ( ] 591-1652), Francisco de Zurbarán (1598-1664), Bartolomé Esteban Murillo (1618-

1682) và Diego Velasquez (1599-1660).

Những bức tranh tiêu biểu của nghệ thuật Tây Ban Nha đương thời có bức "Thảm sát ihỏnh Bartolomeo" cỳa Jusepe de Riberd (1630), bức "Thỏnh Franỗoise đang hồi tường"

(1639) cỳa Franỗisco de Zurbarỏn và bức "Las Meninas" (hay "Gia đỡnh Philippe IV") cựa Diego Vélasquez (1656), đều là những minh chúng cho "một nén nghệ thuật cùa cái bi tráng”.

Velasquez (1599-1660) sinh Ớ Seville, sau khi học nghề ờ quê hương đã đến Madrid làm họa sĩ hoàng gia cho Nhà vua Philippe IV. Ông là họa sĩ vĩ đại nhất của trường phái Tây Ban Nha, tài năng cùa ống phát triển sớm, khi mới hơn mười tuổi ông đã vẽ những bứt tranh nghiêm chinh và làm chù được kỹ thuật. Trong khi những bức tranh tôn giáo cùa Ihẩy ỏng là Pacheco thường khô khan, chân phương thì Velasquez đã theo đuổi một phong cách khác, tạo thêm sức sống cho tác phẩm của minh khi nghe lời khuyên của thay "Điêu khắc tìm Ihấy mọi thứ trong thiên nhiên". Tranh lôn giáo của ỏng thường được vẽ với một phong cách tự nhiên trong đó nhân vật là chân dung thay là hình tượng lý tướng (vợ ông có Ihể là người mẫu cho Đức mẹ Đồng trinh), ánh sáng huyển bí, thiêng liêng Irong khi vẵn quan sát theo tinh thần hiện thực. Một số bức tranh tôn giáo cùa ông được vẽ trẽn nền ấm áp và kỹ thuật tương phản sáng - tối mạnh mẽ cũng như tinh thẩn tự nhiên cùa chúng cho thấy ảnh hưởng của Caravaggio đối với Velasquez.

Năm 24 tuổi ống đã trờ thành họa sĩ có uy tín nhất nước Tây Ban Nha khi õng được nhà vua chọn làm họa sĩ vẽ chân dung cho mình. Với địa vị là họa sĩ của triều đình, chiều hướng sáng lác và phong cách cùa ông có thay đổi. Đ é tài chủ yếu cùa ông là vẽ tranh chân dung cung đình, mặc dầu có vẽ tranh lịch sử, thần thoại và tôn giáo. Bút pháp cùa ỏng trớ nên phóng khoáng và uyển chuyên hơn, chân dung nhà vua và các cận thán vần dường bệ, uy nghi, nhưng có nhân tính hơn, có sinh khí hơn và loại bỏ những thứ không cẩn thiết. Thập niên 1630 và 1640 là thời kỳ sáng tác đáng ghi nhớ nhất của ông. Ông vẽ một loạt chân dung các nhân vật hoàng gia và triều thần, một số bức tranh chân dung cưỡi ngựa lộng lẫy. Ông có khả năng thống nhất hình thức phía trước của mặt tranh và hậu cảnh phía sau cùa nền tranh trong loại tranh phong cảnh. Tư thế hoa mỹ của nhân vật thuộc về truyền thống Barổc, nhưng họ không có thái độ khoa trương hay cường điệu và với tính cách chân dung thì những bức tranh này có tính chất điển hình. Năm 1634-1635 òng cùng các họa sĩ triều đình vẽ tuyệt tác lịch sử đương thời "Cuộc đầu hàng ớ Brenda", một bức tranh vẽ để ca tụng chiến thắng quân sự dưới triều đại Philip IV và dể trang hoàng cung điện mới Buen Retiro ở Madrid. Bố cục bức tranh chặt chẽ nhưng Velasquez đã tạo một cảm giác thời sự tuyệt vời và không có bức tranh nào trước đó nói về sự kiện lịch sử lại thuyết phục như vậy. Năm 1650 ông vẽ bức chân dung Giáo hoàng Innocent X trong thời gian ông đi thãm Rôma. Đây là bức chân dung được đánh giá là tuyệt tác, cực đỉnh của chân dung thế giới, cách thể hiện táo bạo, sắc bén. Bức

"Las Meninas" (Quí nhân) hay còn gọi lả bức "Gia đình Philippe IV" được vẽ trong xướng họa của họa sĩ, đặt dưới tầng hẩm của cung điện Alcazar, năm 1656, có chủ để ca ngợi công đức của nghệ thuật cung đình hoàng gia. Đây là bức cực đinh trong sự nghiệp của ông. về sau này, nãm 1985 bức này được bầu là bức tranh vĩ đại nhất trên thế giới.

Velasquez đã dùng mộl hình thức chân thực, lợi dụng không gian phán chiếu từ trong gương, ghi lại hình ánh của chính mình khi còn phục vụ cho hoàng gia, còn miêu tả cảnh các còng chúa mang theo các cung nữ vào mặt tranh.

243

Vélasquez được khám phá ờ giữa thế kỷ XIX bởi phong cách hội họa của các họa sĩ Pháp nổi tiếng như Courbet và Manet giống của ông, ông rất thành còng trong thể loại tranh chân dung.

Jusepe de Ribera (1591-1652), nghệ sĩ khắc axít, họa sĩ Tây Ban Nha, hoạt động ờ Italia. Ông lập nghiệp ở Napoli, Italia năm 1616, lúc đó Napoli là thuộc địa của Tây Ban Nha và là một trong những trung tâm nghệ thuật chính của phong cách Caravaggio. Ông là một trong những người theo lối vẽ của Caravaggio, ông có phong cách đặc biệt là cách vẽ mãnh liệt và nét bút như cào xước. Tranh thời gian đầu cùa ông có phong cách ảm đạm và vào thời kỳ sau có màu sắc phong phú với bóng nổi mềm mại. Ông là người đầu tiên đã đối nghịch với truyền thống ghét chủ đề thần thoại trong nghệ thuật Tây Ban Nha. Với loạt tranh về các triết gia được ông mô tả dưới dạng kẻ hành khất (Archimedes, 1630, Prado) đê chế nhạo thói phô trương của phong cách Hàn lâm.

Francisco de Zurbarân (1598-1664), Những tác phẩm cùa Zurbarân được chú ý trong những nãm gẩn đây, tác phẩm đề tài tôn giáo của ông gây ấn tượng mạnh bời tính mực thước cổ xưa, mật độ của màu sắc, tính chất hoành tráng của các hình ảnh và sự trẩm mạc trang nghiêm.

Diego Velasquez, Cuộc đáu hàng ở Brenda, 1634-1635, Sơn dấu, 307x367cm, Bảo làng Prado - Madrid.

244

B arto lo m é E steban M u rillo (1 6 18-1682) là hoạ sĩ hoạt động gần như cả dời ớ quẽ hương Seville. Lúc đầu tranh cùa ông có phong cách tự nhiên u ám, ảnh hướng của Zurbarán. Sau khi vẽ mười một bức tranh về cuộc đời của các vị thánh vẽ cho tu viện dũng Franỗois ỡ Seville (1645-1646) ụng trở nờn danh tiếng và trớ thành họa sĩ hàng đầu cùa thành phố này và giữ vững địa vị này suốt đời. Phán lớn tranh ông thuộc đề tài tôn giáo, kêu gọi lòng mộ đạo cùa nhân dân và minh họa các giáo lý chống cải cách. Đặc trưng của phong cách sau này của ông là hình lượng lý tướng hóa, mểm mại, hình thể hài hoà, màu sắc tinh tế, diện mạo và tâm Irạng dịu dàng, phong cách của ông còn được gọi là "Phong cách mơ màng hư ảo". Ớ thế kỷ XVIII hội họa của Murillo rất phổ biến, chúng còn được bán ra nước ngoài nhưng đến cuối thế kỷ XIX thì tác phẩm của ông không còn được chú ý vì bị chỉ trích là quá ủy mị, mãi đến 20 năm cuối thế kỷ XX nghệ thuật của ông mới được đánh giá lại. Ớ tranh của Murillo tất cả đểu là sự duyên dáng tự nhiên và dân dã, ý muốn làm cho cái thiêng liêng thành quen thuộc và kỹ thuật của ông đạt đến một độ hoàn hảo hiếm có trong sự giản dị bé ngoài.

Diego Velasquez, Hoàng từ Baltasar Carlos, 1635-16Ỉ6, Sơn dâu, 209x¡73cm,

Bào làng Pi ado - Madrid.

Diego Velasquez, Giáo lioàng Innocent X, 1650, 140x120cm, Phòng tnnig bày Doria Pampliili, Rôina.

Một phần của tài liệu Giáo trình Lịch sử nghệ thuật (Tập 1): Phần 2 (Trang 101 - 121)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(161 trang)