Chủ nghĩa Hiộn thực (tiếng Anh: Realism, tiếng Pháp: Réalisme) là trào lưu thể hiện mối quan tâm đến sự đích thực và quang cảnh cũng như đời sông hàng ngày của con người.
Trước chủ nghĩa Hiện thực, chủ nghĩa Lãng mạn đã một thời khuấy động được tinh thần của con người, nó hưóng về c ổ dại xa xưa hoặc phương Đ ông xa xôi, nó tạo nên những kích thước vể mặt tình cảm, kích thích những ảo tưởng về sự xuất thế của những điểu không bình thường. Nhưng chủ nghĩa Lãng mạn cũng khiến cho con người cảm thấy tràn ngập một tình cảm phù du, một tình cảm khoa trương.
Nãm 1840, trong Vãn học bắt đầu nổi lên một trào lưu hiện thực - hay tả thực - chống đối lại với chủ nghĩa Lãng mạn. Từ gốc của chữ Hiện thực chủ nghĩa là chữ
"real", có nghĩa là chân thực, nội dung của trào lưu này có hàm ý là "quay lại với hiện thực cùa cuộc sống".
Trong vãn học Phấp lúc bấy giờ, Guy de Mopassant và Flaubert đều sử dụng các chi tiết rất chân thực cùa đời thường vào các tiểu thuyết của mình thay cho các tính từ khoa trương và cách điệu của chủ nghĩa Lãng mạn.
284
Tác phẩm "Bà Bovary" của Flaubert là một danh tác dùng ngòi bút sắc lạnh để miêu tá áo tướng lũng mạn của một cô gái nông thôn Pháp. Tác phẩm nàv biến thành một hình ánh tướng tượng cho việc phán ánh một sự thật là nếu chỉ căn cứ vào ảo tướng thì không có cách gì tiếp cận được với cuộc sống thực tế.
Flaubert dùng bút pháp khách quan dẫn dắt dộc giả đi vào thế giới nội lâm cùa nhân vật chính. Nhân vật chính cùa chủ nghĩa Hiện thực nhiều khi chỉ là người dân thường bình dị. không có chuyện gì to tát ở họ, tâm sự có khi chỉ là niém vui nho nhỏ trong cuộc sống.
Trong hội hoạ, chủ nghĩa Hiện thực cũng tiểm ản một khả năng gạt bò chủ nghĩa Lũng mạn, một chủ nghĩa luôn luôn mong muốn dẫn dắt người ta đi đến một miển đất hứa xa xôi mà có khi không biết bao giờ mới đến được.
Chú nghĩa Hiện thực đem nghệ thuật từ chủ quan quay lại với khách quan, lấy nhũng chi tict tổn tại khách quan (hay cho những tình cảm sướt mướt chù quan.
Các hoạ sĩ Hiện thực chủ nghĩa chủ trương quay lại với đời thường của mình, với các thị trấn và nông thôn bình dị cùa nước pháp, gặp lại chính người dân nông thôn hay dò thị của họ mà trước đó họ khôr.g khám phá ta những nét riêng biệt đáng chú ý.
Có bốn hoạ sĩ của trường phái hiện thực mà ta nên nghiên cứu là Corot, Millet, Dai.mier và Combet.
C am ille Corot (1796 - 1875) bắt đầu vẽ tranh phong cảnh lịch sử, sau đó ông thay đối phong cách rất gần với chủ đề sau này. Ông rất thiện nghộ trong việc điểu phối ánh sáng và sắc độ trong tranh. Tranh của Ông, không chỉ được tạo thành bởi những đường nét mà tạo thành trước hết bởi sự đậm nhạt của màu sắc. Người ta nói Corot - cùng với Boudin - là hai hoạ sĩ đứng trên vùng biên của ranh giới giữa chủ nghĩa Lãng mạn và chú nghía Ân tượng.
Corot là bảc tháy cùa nhiểu thể loại tranh: đồ hoạ, hội hoạ, chân dung, tranh in. màu sác, lĩnh vực nào ông cũng nổi tiếng.
Thời gian hoạt động của Camille Corot tương đương với thời gian của hoạt động của Delacroix Irong chủ nghĩa Lãng mạn, nhìn chung kích cỡ tranh của Corot không lớn, khác với Delacroix dùng tranh cỡ lớn dể thể hiện các nội dung hùng vĩ cùa sir thi thì Corot lại hài lòng với các tấm toan kích cỡ khiêm tốn, với những đẻ tài gần gũi với bản thân.
Trong khi chủ nghĩa Lãng mạn khai thác làn sóng mãnh liệt của các loại tình cám thì Corot lại đi tìm sự yên tĩnh Irong vãn hoá cùa các thị trấn nhỏ.
Nhân vật trong tranh của Corot chất phác, đôn hậu, thường thường là những bà con, họ hàng thản thuộc, xóm giềng cùng một thị trấn, họ được vẽ trong những tư thế thường aặp trong cuộc sông, không cách điệu, không điệu đà, ngay cả quần áo cũng là quẩn áo hình dị cùng với những trang sức thường gặp.
Màu sắc cùa Corot cũng khòng bay bổng và hoa lệ như hội hoạ Lãng mạn chủ nghĩa, ông hay dùng màu trung gian, màu nâu hoặc màu xanh lá cây ngả den, thể hiện một mặt kiểu tranh trầm lắng với người và phong cành đôn hậu, thật thà.
Camille Corot, Thiếu nữ đeo tigọc, Sơn dầu, 70x55 cm, 1869, Bào làng Louvre
Cách vẽ phong cảnh của Corot rất đáng chiêm nghiệm, xem xét. Mỹ thuật phương Tây cho đê'u lúc dó thường không xem tranh phong cảnh là đối tượng chủ yếu. Đến thế kỷ XVII, nghề hàng hải phát triển, do đó tranh vẽ các đại dương mới bắt đẩu được chú trọng, một khát vọng xây dựng kiểu vẽ phong cảnh mới lấy biển làm chủ để được dấy lén và chủ nghĩa Lãng mạn đã tận dụng xu hướng đó. Corot thì ngược lại, hoạ sĩ đã đem phong cảnh phương Tây từ biển vể đất liền.
Corot đã tùng có nhiều kỳ niệm đối với biển, từng vẽ biển ở Venise, nhưng ông không có tham vọng chinh phục tự nhiên lớn, chỉ một hải cảng yên tĩnh, đối với õng thế là đủ.
Thành phố nhò, thị trấn nhỏ là đè tài mà ống yêu mến, và có vẻ như ông thích hợp hơn với các tháp nhà thờ Trung thế ký, ví dụ như bức "Nhà thờ Chartres"
286
Emilie Corot, Nhà thờ Chartres, Sơn dâu, 82x50 cm, 1830, Bảo tàng Louvre Tranh phong cảnh của Corot là một hiện thực mới trong thế giới hội hoạ, nó cũng buộc văn hoá nghệ thuật Pháp phải xem xét lại chính bản thân mình .
Chủ nghĩa Hiện thực, với Corot, không dừng lại như một kỹ năng, mà nó mờ ra một con đường mới hướng về tự nhiên, về miển đất lớn, và vì truyền thống Pháp. Corot cùng với bạn bề của ông đã giúp cho mọi người thấy quê hương Pháp của người Pháp cũng đẹp đẽ, cũng thiêng liêng như thần thoại Hy Lạp.
M illet (Jean - Franỗois M illet) (1814 - 1875) cũng chỡm đắm trong quan điểm coi trọng "chất thơ thường nhật của cuộc sống"
Millet sinh ra ờ một trang trại ờ Gruchy (Normandie) trong một gia đình nông dân.
Millet có một học bổng để học hội hoạ ở Paris. Sau một thời gian vẽ khoả thân và vẽ chân dung, Millet chuyển sang vẽ tầng lóp bình dân của xã hội. Vì sự khác biệt của còng chúng, vì bệnh dịch tràn lan cũng như ảnh gưởng của cuộc Cách mạng 1848, Millet cùng gia đình dọn đến ở Barbizon, thuê một cãn nhà nhỏ ờ đó làm xưởng vẽ.
Millet đã vẽ đã vẽ theo tinh thần câu nói của Jean - Jacques Rousseau: "Cẩn phải đế cho tâm hổn cúa nghệ sĩ tràn ngập trong sự phong phú vô tận cùa thiên nhiên".
Barbizon vốn là một làng quê bình thường, ở dây sau này đã tụ tập lại một số hoạ sĩ, còn lúc đẩu họ chi lai vãng để ký hoạ, thời gian các hoạ sĩ ờ đây cặng ngày càng láu và sau đó dịnh cư hẳn.
Barbizon chính là nơi trốn chạy sự ổn ào đô thị của Rousseau, Daubigny, Corot, cũng như Millet. Lúc bấy giờ rất nhiểu nghệ sĩ đổ xô đi tìm một "quê hương tám linh"
cho mình, Barbizon là một làng nhỏ bên bìa rừng Fontainebleau có vẻ như đáp ứng đuợc yêu cầu đó và thế là Hoạ phái Barbizon ra đời. Điểu này tương đương với một cuộc Cách mạng trong nghệ thuật, một cuộc cách mạng diễn ra trong im lặng, các hoạ sĩ quay mặl lại với dô thị, với công nghiệp, với sự phồn hoa huyên náo, họ ca ngợi tự nhiẽn, đất đai, lao động và nông nghiệp.
Tác phẩm tiêu biểu cùa Millet lúc đó là "Những người đàn bà mót lúa", đó là sự thể hiện một tín ngưỡng tôn kính của ông với đất đai, với lao động.
Jean - Franỗois Millet, Nhũng người dàn bà mủI Hiu, Sơn (lỏu, 83,5 X ì ì ì cm, ¡857, Báo làng Louvre.
Daumier - (Honores Daumier) (1808-1879), sinh Ớ Marseille, hoạ sĩ tự học. tự đào tạo bàng cách hay lui tới Báo tàng Louvre. Daumier - vào khoảng từ năm 1830 - gắn bó với Irào lưu phê phán sự phân biệt đắng cấp ớ Pháp. Trong khi Millet lương đối ÔI1 hoà.
chi ca ngợi ruộng đồng, đất đai và lao dộng thì Daumier triệt đế hơn, ý thức dứng vổ phía nhân dân nghèo khổ rõ nét hơn. Và Daumier dùng hội hoạ đế phán dối sự phán lầng trong xã hội.
288
Charles - Franỗois Daubigny, Mựa xuõn. Sơn dầu, 94x193 cm, 1857, Bảo tàng Louvre.
Trước và sau năm 1850, Công nghiệp hoá ờ Tây Âu đưa nhân dân đến sự bẩn cùng, đổng thời cũng khiến cho trí thức dấy lên phong trào phản đối giai cấp tư sản. Nếu xem xét lừ những nguời theo chù nghĩa Vô chính phủ hay từ phía chủ nghĩa Xã hội, họ đểu chi trích giai cấp tư sản. Trào lưu này phản ánh rõ nét trong văn học và trong hội hoạ.
Hội hoạ trước đây là vật thường ngoạn của tầng lớp trên, nhưng với Daumier, ông mơ ước đến một ngày nhân dân lao động cũng được hường thụ nghệ thuật. Ông đã dùng sơn dầu để miêu tả nhân dân lao động. Ngoài sơn dẩu, Daumier còn râì thiện nghệ vể đổ hoạ, ký hoạ, tranh in.
Daumier, Toa xe hạng ba, Sơn dâu 65,4 X 90,2 cm, 1862, Báo làng Metropolital, NewYook.
Bức tranh "Toa xe hạng ba" miêu tả loại công cụ vận chuyển mới phát triển lúc bấy giờ. nhưng chủ đích cúa Daumier không miêu tả sự tiến bộ của nền công nghiệp phương Tày mà lại qua đó miêu tả sự bần cùng hoá của nhân dân lao động.
Người nóng dân dưới ngòi bút cùa Millet cũng như người bị áp bức dưới ngòi bút của Daumier đều góp phần vào việc hô hào cải cách ờ xã hội phương Tây th í kỷ XIX.
G ustave C ourbet (1819 - 1877) cũng là một cá tính "bùng nổ" khác của Hội hoạ hiện thực. Đẩu tiên ông học luật, sau đó chuyển sang hội hoạ.
Ông từng nói: "Tôi chủ trương hội hoạ là một nghệ thuật cụ thể về mặt bản chất, nó chi bao gồm trong việc thể hiện những vật thể tồn tại".
Courbet cũng như các nhà hiện thực khác, cho rằng hội hoạ Hiện thực chủ nghĩa không gắn bó với trí tường tượng, nó chỉ ra "chính bản thán cuộc sống là như thế nào" và kết thúc thời đại cùa "những sự tưởng tượng".
. -
f j f
^ j e TS*ô
■ V "
rẽỹp.ỷ U;
¿ẾỄP m
Ị ^ Ị I I
! ■ •
r >£ *
[
í
J # f c
Ĩ s ' - -;v !
Gustave Courbet, Người sàng lúa mạch, Sơn dầu, I31xl67cm, 1853-1854, Bảo tàng Nantes, Pháp
Courbet đã đem lại hội hoạ gắn bó chặt chẽ với hiện thực, và thể hiện ra điều đó trong cả cách vẽ ngườ^ (tác phẩm "Người sàng lúa mạch", hay tác phẩm "Xin chào ông Courbet") và cách vẽ phong cánh (bức "Sau cơn mưa").
290
Gustave Courbet, "Xìn chào ông Courbet", hay là "Gặp gỡ", Sơn dầu, 129x149,1854.
Gustave Courbet, Sau cơn mưa, Sơn dẩu, 130x162 cm, Bào tàng Orsay - Pháp.
Tác phẩm nổi tiếng nhất cùa Courbet là tác phẩm "Xưởng vẽ của hoạ sĩ" được thể hiện theo một tỉ lệ vàng chặt chẽ.
291
Courbet theo quan đuổi một chù nghĩa tự nhiên khách quan. Trong bức tranh trẽn, miẽu tả chính ông đang vẽ, người mẫu đứng bẽn cạnh, rồi bạn bè vãn nghệ sỹ, có cả người ăn xin đẩu phố, những kẻ giang hổ. Ông muốn bộc lộ một mong muôn bình đáng cho người người, nhiểu giới.
Guslave Courbet, Xưởng vẽ cùa hoạ sĩ, Sơn dâu 361 x598 cm, 1855, Bào làng Louvre.
Tranh phong cảnh của Courbet là những tổn tại thực sự chứ không giống như trong mộng tưởng. Nguời và cảnh trong hội hoạ của Courbet được thừa nhận là có một sức sống hết sức ngoan cưdng.
292