CÁC PHƯƠNG PHÁP CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC

Một phần của tài liệu Bg doc chat hoc phan 1 0827 (Trang 20 - 23)

Khi xảy ra ngộ độc cấp tính phải nhanh chóng tổ chức cấp cứu chống độc. Các phương pháp điều trị nhằm mục đích:

- Loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể - Phá huỷ hoặc trung hoà chất độc - Điều trị các hậu quả của ngộ độc

Điều trị các triệu chứng ngộ độc, nâng cao sức đề kháng của cơ thể là biện pháp quan trọng nhất và bao giờ cũng áp dụng trước tiên.

8.1. Loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể. Việc loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể có thể được thực hiện qua các con đường: tiêu hoá, tiết niệu, qua phổi và qua thận

8.1.1. Phương pháp loại bỏ chất độc qua đường tiêu hoá. Hiệu quả của phương pháp này phụ thuộc nhiều vào thời gian hấp thu, phụ thuộc vào chất độc...nhưng nên tích cực loại chất độc qua đường này nếu không có các chống chỉ định cụ thể.

- Gây nôn: Nếu không có các chống chỉ địmh như uống phải chất ăn da, ngộ độc stricnin, xăng dầu hoặc bệnh nhân hôn mê sâu... thì phải gây nôn. Trường hựp

bệnh nhân hôn mê, muốn gây nôn cần đặt ống xông để bảo vệ đường hô hấp, chống sặc và dịch nôn không lọt qua đường thở. Gây nôn bằng kích thích họng, tiêm dưới da apômcphin: 5-10 mg, hoặc uống 1,2 g bột ipeca hoà trong một ít nước ấm.

- Rửa dạ dày: nếu không gây nôn được thì phải rửa dạ dày. Nên rửa dạ dày trong 3 giơ đầu sau khi ngộ độc để hạn chế việc hấp thu vào máu. Khi rửa lấy 250- 300ml dich rửa đầu tiên để phân tich xác định chất độc. Dung dịch để rửa dạ dày có

thể là:

+ Dung dịch kali permanganat 1-2 %; là chất oxy hoá phản ứng dễ với các chất hữu cơ, sữa loãng, huyết thanh mặn đẵng trương

+ Dung dịch magnesium oxid hoặc magnesium hydroxid để trung hoà axít dung nồng độ 2,5% (tính cho MgO)

+ Dung dịch Natri hydrocacbonat 0,5% (nếu ngộ độc bằng axít thì không dùng vì giải phóng khí CO gây trướng bụng, thủng dạ dày)

Những bệnh nhân ngộ độc vì axít hoặc base mạnh, strychnin, uống phải chất dầu hoặc phải hôn mê sâu thì không rửa dạ dày.

-Dùng thuốc tẩy. Sử dụng loại nhẹ như: natri sunfat, magnesium. It khi dùng dầu tẩy vì nguy hiểm trong trường hợp ngộ độc photpho, santonin, DDT, photpho hữu cơ hoặc những chất độc tan trong dầu.

-Thụt tháo. Mục đích của thụt tháo là để rửa đại tràng; thường rửa bằng dung dich NaCl 0,9%.

8.1.2. Loại bỏ chất độc qua thận. Nhiều chất độc sau khi vào máu được đào thải qua nước tiểu. Để thúc đẩy quá trình này người ta có thể:

- Truyền dịch: có thể cho dung dịch ưu trương, thuốc lợi niệu (nếu không bị bệnh thận). Chú ý là khi đái nhiều có thể mất chất điện giải Na+, K+, Cl-,... cần bù đắp thích đáng.

Một số chất độc có có tính axit yếu thường đào thải nhanh chóng trong môi trường kiềm (bacbiturat) hoặc giảm tác dụng ở môi trường kiềm (photpho hữu cơ); nên người ta thường đưa dung dịch kiềm vào cơ thể nhưng cần theo dõi pH của máu để không vượt quá 7,6, vì nếu kiềm quá sẽ ức chế hô hấp. Một số chất độc giảm tác dụng trong môi trường axit nhưng trong lâm sàng giảm pH của máu dễ gây biến chứng nên ít áp dụng để điều trị.

- Nếu có điều kiện và xét thấy bệnh nặng, người ta dùng phương pháp lọc máu bằng thận nhân tạo.

8.1.3. Thay máu. Phương pháp này áp dụng trong trường hợp ngộ độc quá nặng, ngộ độc các chất gây tan huyết quá nhiều hoặc gây methemoglobin quá nặng rất khó có thể hồi phục, các trường hợp không thể giải quyết được bằng phương pháp lọc ngoài thận...như ngộ độc các nấm độc, do rắn cắn, ngộ độc aminazin rất nặng

8.1.4. Qua đường hô hấp. Một số chất độc ở thể khí hoặc thể bay hơi có thể loại nhanh chóng ra khởi cơ thể bằng đường hô hấp. Để người bệnh ở nơi thoángvà làm hô hấp nhân tạo (trừ trường hợp ngộ độc các chất gây phù phổi: phosgen, clor, SO2...). Có điều kiện dùng máy trợ hô hấp nồng độ oxi 50%

8.2. Phá huỷ hoặc trung hoà chất độc. Đây là phương pháp dùng các chất chống độc để phá huỷ hoặc trung hoà các chất độc theo các cơ chế khác nhau dựa vào tính chất vật lý, tính chất hoá học hoặc hoá sinh...

8.2.1. Chống độc dựa vào tính chất vật lý. Dùng các chất có khả năng hấp thụ các chất độc như cho uống 1-2 thìa canh than hoạt tính. Than hoạt tính có thể hấp phu nhiều chất độc như aconit, atropin. nicotin, barbiturat, digitalin, nhiều kim loại nặng. Có thể dung cả kaolin.

8.2.2. Chống độc dựa vào tính chất hoá học. Có thể dùng các chất gây nôn, các chất rửa dạ dày, thụt tháo, hoặc dùng ngay sau khi gây nôn, sau khi rửa dạ dày, thụt tháo.

Có thể sử dụng hai loại sau:

* Các chống độc đa năng: là các chất chống độc có khả năng dùng với nhiều loại độc, tạo nên những chất không tan hoặc ít tan:

- Lòng trắng trứng (thường điều chế bằng cách hoà tan 6 lòng trắng trứng vào thành 1 lít nước, có thể thêm chất thơm cho dễ uống) : dùng chống ngộ độc các kim loại nặng, do albumin trong lòng trắng trứng tác dụng với kim loại nặng tạo anbuminat không tan

- Dung dịch tanin: rất công hiệu để kết tủa kim loại nặng, các alcaloid. Alcaloid tạo với tanin hợp chất tanat kết tủa nhưng tan trong axit clohydric của dạ dày. Do đó

tanin chỉ làm chậm tác dụng của chât độc; sau khi uống thuốc giải độc phải gây nôn - Dung dịch chống độc vạn năng của Jeanel (Pháp) rất công hiệu, gồm hai dung dịch:

Dung dịc A: Sắt (II) sunfat 139g Nước cất 700ml Dung dịch B: Natri sunfit 110 g

Mangesium oxid 22 g Nước cất 660 ml

Trộn hai dung dịch khi dùng, sẽ tạo ra sắt (II) sunfit, mangesium, natri sunfat, sắt (II) hydroxid và một ít mangesium oxid thừa. Mỗi lần uống vài thìa canh, uống nhiều lần hoặc từng nhóm chất nhất định. Ưu điểm là dùng cấp rất công hiệu quả, song cần có sự chẩn đoán nguyên nhân gây ngộ độc chính xác:

- Dung dịch đường vôi để chống ngộ độc axit oxalic, phenol

- Dung dịch natri sunfat và mangesium sunfat chống ngộ độc chì, bari

- Dung dịch axit boric, nước chanh (axit citric), axit tactric hay axit sunfuric chống ngộ độc kiềm

- Dung dịch natri thiosunfat 3% chống ngộ độc HCN

- Dung dịch atropin sunfat cho ngộ độc thuốc trừ sâu lân hữu cơ

- Dung dịch BAL đê chống ngộ độc kim loại nặng (tạo phức bền do có hai nhóm - SH)

-Dung dịch Trion B cũng là chất tạo phức tốt với nhiều kim loại nên được dùng để giải độc. Tuy vậy khi dùng dễ làm mất nhiều ion Ca2+ của cơ thể, nên người ta sử dụng muối canxi của Trilon B. Ví dụ: Calcitetracemat, ống 10 ml dung dịch 5%. Ngày truyền 1-2 ống nhỏ giọt tĩnh mạch với huyết thanh (ngọt hoặc mặn ) đẳng trương. Mỗi đợt dùng 3-5 ngày. Sau khi nghỉ 4-7 ngày có thể dùng một đợt nữa.

8.3. Điều trị triệu chứng độc. Trong điều trị ngộ độc cấp, một mặt vì chưa biết ngay chất độc nào (đang chờ kết quả phân tích ), mặt khác, chất chống độc không nhiều, người bệnh có thể bị đe doạ tính mạng vì các rối loại chức phận. Vì vậy điều trị triệu chứng có vai trò rất quan trọng. Người ta thường sử dụng hai cách:

8.3.1. Điều trị đối kháng. Dùng các chất có tác dụng dược lý đối lập nhau: ngộ độc strichnin dùng barbiturat, ngộ độc phospho hữu cơ dùng atropin, dùng neostigmin để chống liệt cơ do các hợp chất cura gây nên để bệnh nhân khỏi chết vì liệt cơ hô hấp).

Các chất đối kháng theo cơ chế miễn dịch: các nhóm chất này được dùng nhiều trong các trường hợp ngộ độc do các động vật như rắn hoặc côn trùng, dưới dạng huyết thanh kháng độc

8.3.2. Điều trị triệu chứng. Nếu bệnh nhân ngạt cần làm hô hấp nhân tạo, cho thở oxi hoặc cacbogen. Trường hợp ngộ độc bởi clor, brom, photgen, SO2...không làm hô hấp nhân tạo. Nếu bi ngạt do tê liệt men phải dùng xanh methylen hoặc glutation, chúng sẽ phản ứng với nước và cung cấp oxi cho cơ thể:

Xanh methylen + H2O  Lecobase + 1/2 O2

Một phần của tài liệu Bg doc chat hoc phan 1 0827 (Trang 20 - 23)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(73 trang)