CẬN LÂM SÀNG TRONG BỆNH LÝ NỘI TIẾT

Một phần của tài liệu Bg noi co so 2 2022 phan 2 0713 (Trang 75 - 80)

112

6.1. Thông tin chung

6.1.1. Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học

Bài học cung cấp kiến thức tổng quát về khái niệm, đặc điểm, các vấn đề bên trong và ý nghĩa của từng cận lâm sàng của hệ nội tiết để chẩn đoán các bệnh lý về nội tiết.

6.1.2. Mục tiêu học tập

1. Mô tả một số cận lâm sàng trong hệ nội tiết thường gặp.

2. Trình bày được các đặc điểm các cận lâm sàng trong bệnh lý thường gặp.

3. Áp dụng phù hợp, chính xác các cận lâm sàng cho từng bệnh lý cụ thể ở hệ nội tiết.

6.1.3. Chuẩn đầu ra

Áp dụng kiến thức để nắm được các vấn đề trong khái niệm, triệu chứng, hội chứng của bệnh lý nội tiết, đồng thời kết hợp với các cận lâm sàng để áp dụng thành thạo trong việc thăm khám và đề nghị các cận lâm sàng phù hợp và đưa ra chẩn đoán chính xác.

6.1.4. Tài liệu giảng dạy 6.1.4.1 Giáo trình

Giáo trình Nội cơ sở II, Trường Đại học Võ Trường Toản năm 2017.

6.1.4.2 Tài liệu tham khảo

10. Trường Đại học Y Hà Nội, Triệu chứng học nội khoa Tập 1, Nhà xuất bản Y học.

11. Trường Đại học Y Hà Nội, Triệu chứng học nội khoa Tập 2, Nhà xuất bản Y học.

12. Trường Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh, Triệu chứng học nội khoa , Nhà xuất bản Y học

6.1.5. Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập

Sinh viên đọc trước bài giảng, tìm hiểu các nội dung liên quan đến bài học, tích cực tham gia thảo luận và xây dựng bài học, ôn tập, trả lời các câu hỏi, trình bày các nội dung cần giải đáp và tìm đọc các tài liệu tham khảo.

113 6.2. Nội dung chính

6.2.1. Thăm dò hình thái

Dựa vào X quang, chụp tỷ trọng cắt lớp, phóng xạ và siêu âm tuỳ từng tuyến có thể áp dụng các phương pháp khác nhau nhằm đánh giá hình dáng và thể tích tuyến trong một vài trường họp, phát hiện cả tổn thương di căn mà lâm sàng không phát hiện được.

6.2.1.1. Chụp X quang thường

Chụp nghiêng sọ để biết hố yên có rộng ra trong u tuyến yên. Bình thường diện tích hố yên cắt ngang khoảng 100-120mm2 (chiều dài 12mm, rộng 8-10mm)

Chụp thường vùng thượng thận có thể phát hiện nốt vôi hoá trong Addison Trong bơm hơi sau phúc mạc cắt lớp để phát hiện u thượng thận

Chụp UIV để xem đài bể thận bị di lệch trong u thượng thận

Chụp tử cung sau khi bơm thuốc cản quang để biết hình thái tử cung, vòi trứng thông hay tắc nghẽn

Chụp đầu xương để xem điểm cốt hoá. Điểm cốt hoá xuất hiện có giá trị rất lớn trong chẩn đoán bệnh ở người trước tuổi trưởng thành. Điểm cốt hoá xuất hiện muộn trong suy giáp trạng, xuất hiện sớm trong cường giáp trạng ở trẻ con.

Chụp cột sống và hệ thống xương để xác định sự loãng xương và xẹp cột sống trong cường vỏ thượng thận, trong Hand Schuller, Christian.

6.2.1.2. Chụp tỷ trọng cắt lớp

Ngày nay chụp tỷ trọng cắt lớp giữ một vị trí lớn trong tất cả các phương pháp thăm dò X quang một số tuyến nội tiết. Nó có thể cho ta biết một tuyến thượng thận bình thường và phát hiện các bất thường về hình thái với kích thước nhỏ ở trên 90% các bệnh nhân. Đây là một phương pháp không gây chấn thương. Nhưng kết quả đưa lại cũng chỉ hoàn toàn là hình thái đại thể.

6.2.1.3. Chụp ký xạ

Chụp ký xạ một phương pháp rất giá trị nhằm thăm dò hình thái, khối lượng một số tuyến nội tiết.

Chụp ký xạ tuyến giáp có thể đánh giá sự tập trung I131 tại tuyến, chụp 3 chiều có thể đánh giá chất lượng tuyến giáp.

Chụp ký xạ thượng thận bằng radio cholesterol hoặc I131 19iod cholesterol, cũng là một phương pháp không gây chấn thương, dễ chịu đựng ở các bệnh nhân có u thượng thận dễ vỡ có thể phát hiện và khu trú các khối u vỏ thượng thận.

114

115 6.2.1.4. Siêu âm

Siêu âm có thể giúp đánh giá hình thái và khối lượng một số tuyến nội tiết như tuyến giáp các nhân, u nang, tuyến thượng thận...

Có thể xác định các nhân hoặc kén giáp trạng

Với thượng thận vì vướng một số xương sườn có thể ảnh hưởng tới kết quả của siêu âm, người ta có thể tiến hành chụp cắt lớp hàng loạt.

6.2.1.5. Chụp động mạch

Trong u vỏ thượng thận, có thể chụp động mạch chủ bụng hoặc chụp chọn lọc động mạch thượng thận.

Với các u cường mạch máu như u tuỷ thượng thận, có thể thấy tổn thương thận tạo nằm ở vùng thượng thận hoặc ngoài thượng thận

Nhưng đây là một phương pháp có thể gây tai biến, nhất là trong u tuỷ thượng thận, gây sốc hoặc cơn cao huyết áp.

6.2.1.6. Chụp tĩnh mạch

Chụp tĩnh mạch thường giới hạn trong thăm dò tuyến thượng thận. Hình ảnh cản quang có thể cho ta hình ảnh trực tiếp của thượng thận. Nhưng phương pháp này có thể lấy máu để định lượng nội tiết tố chọn lọc từ tuyến, có giá trị cao hơn định lượng nội tiết tố ở máu ngoại biên.

6.2.2. Thăm dò chức năng

Trong việc thăm khám tuyến nội tiết, thăm dò chức năng, giữ vị trí hết sức quan trọng thể dịch phải phát hiện bằng cách định lượng các nội tiết tố.

116 6.2.2.1. Thăm dò tĩnh

Có 3 cách để đánh giá chức năng tuyến nội tiết:

 Định lượng các nội tiết tố.

 Cortisol máu tăng trong bệnh Cushing, giảm trong bệnh Addison.

 Định lượng T3, T4.

T3, T4 tăng trong Basedow, giảm trong suy giáp trạng.

6.2.2.1.1. Định lượng TSH, ACTH

TSH, ACTH tăng trong u lành hoặc phì đại tuyến yên, giảm trong suy tuyến yên.

Việc định lượng các nội tiết tố đòi hỏi kỹ thuật, hoá chất tinh khiết, đắt tiền, khó thực hiện nhất là trong các bệnh tuyến yên, phải định lượng với lượng rất nhỏ tới ng, hoặc pg.

Định lượng các dẫn xuất của chuyển hoá nội tiết tố ra nước tiểu.

Định lượng 19 OH corticoid: là một nhóm chất chuyển hoá từ cortison qua nước tiểu 17 OH cetosteroid tăng trong Cushing, cường vỏ thượng thận sinh dục giảm trong Addison.

Định lượng Vanin Mandelic. Acid chuyển hoá từ catecholamin ra nước tiểu Vanin - Mandelic Acid tăng trong u tuỷ thượng thận.

6.2.2.1.2 Đánh giá tác dụng sinh vật của nội tiết tố:

Mỗi nội tiết tố đều có tác dụng sinh vật lên các tế bào đích đặc hiệu cho mỗi chất.

Đường huyết tăng trong đái tháo đường, hạ trong u lành đuôi tuỵ

Định lượng Na, Cl, K để đánh giá chức năng của aldosteron Na, C1 tăng K hạ trong hội chứng Conn.

Na, Cl hạ, K tăng trong Addison.

Các thăm dò thông qua các tác dụng sinh vật của nội tiết tố thường ít giá trị, đôi khi chỉ giúp khêu gợi, vì vậy cần phải kết hợp với các thăm dò của chính nội tiết tố.

6.2.2.2. Thăm dò động

Nhờ hiểu biết về điều khiển học trong cơ thể, thông qua cơ chế Feed Back (điều khiển ngược) việc thăm dò động các tuyến nội tiết giúp đánh giá tình trạng bệnh lý, nhất là đánh giá mức độ, tổn thương, vị trí tổn thương của các tuyến nội tiết.

Một phần của tài liệu Bg noi co so 2 2022 phan 2 0713 (Trang 75 - 80)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(149 trang)