1.1. Chẩn đoán tăng huyết áp
2.2.6. KỸ NĂNG ĐO CHIỀU CAO, CÂN NẶNG VÀ ĐÁNH GIÁ DINH DƯỠNG
Kỹ thuật đo chiều cao, cân nặng
Cân nặng: Đó là số đo thường dùng nhất, cân nặng của một người trong ngày buổi sáng nhẹ hơn buổi chiều. Sau một buổi lao động nặng nhọc, cân nặng giảm đi rõ rệt do mất mồ hôi. Vì thế nên cân vào buổi sáng khi ngủ dậy, sau khi đã đi đại tiểu tiện và chưa ăn uống gì. Nếu không, cân vào những giờ thống nhất trong điều kiện tương tự (trước bữa ăn, trước giờ lao động).
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 30 - Cân trẻ em: nên cởi hết quần áo. Trường hợp trẻ quấy khóc, không dỗ được, có thể cân mẹ của trẻ rồi cân mẹ bế trẻ. Cần chú ý trừ ngay để lấy số cân nặng thực tế của trẻ.
- Cân người lớn: nam giới chỉ mặc quần đùi, cởi trần, không đi giày dép; nữ giới mặc quần áo gọn nhất và phải trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả. Người được cân đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng bổ đều cả hai chân. Cân đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng ở số 0. Hàng ngày phải kiểm tra cân hai lần bằng cách dùng quả cân chuẩn (hoặc vật tương đương) để kiểm soát độ chính xác, độ nhậy của cân. Cân nặng được ghi với 1 hoặc 2 số lẻ, thí dụ 11,2kg tùy theo loại cân có độ nhạy 100 hoặc 10g.
Chiều cao:
- Đo chiều cao đứng (đối với người lớn):
+ Bỏ guốc dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước đo. Lưu ý để thước đo theo chiều thẳng đứng, vuông góc với mặt đất nằm ngang.
+ Gót chân, mông, vai và đầu theo một đường thẳng áp sát vào thước đo đứng, mắt nhìn thẳng ra phía trước theo đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ thõng theo hai bên mình.
+ Dùng thước vuông hoặc gỗ áp sát đỉnh đầu thẳng góc với thước đo.
+ Đọc kết quả và ghi số cm với 1 số lẻ.
- Đo chiều dài nằm (đối với trẻ em):
+ Để thước trên mặt phẳng nằm ngang
+ Đặt trẻ nằm ngửa, một người giữ đầu để mắt nhìn thẳng lên trần nhà, mảnh gỗ chỉ số 0 của thước áp sát đỉnh đầu. Một người ấn thẳng đầu gối và đưa mảnh gỗ ngang thứ hai áp sát gót bàn chân, lưu ý để gót chân sát mặt phẳng nằm ngang và bàn chân thẳng đứng.
+ Đọc kết quả và ghi số cm với 1 số lẻ, ví dụ: 53,2cm (độ nhạy 1mm). Cần lưu ý so sánh với bảng phù hợp, vì cách đo chiều dài nằm và chiều cao đứng có sai số khác nhau 1-2cm.
Nhận định tình trạng dinh dưỡng ở người lớn
Dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc để nhận định tình trạng dinh dưỡng ở người trưởng thành khó khăn hơn ở trẻ em. Cân nặng và chiều cao riêng rẽ không đánh giá được tình trạng dinh dưỡng, mà cần phối hợp giữa cân nặng với chiều cao và các kích thước khác.
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 31 Ở người trưởng thành dinh dưỡng hợp lý, cân nặng nói chung ổn định và duy trì trong một giới hạn nhất định, ta gọi là cân nặng "lý tưởng" hay "thích hợp".
Có nhiều công thức tính cân nặng "nên có" như một số công thức sau đây:
- Công thức Broca:
Cân nặng "lý tưởng" (kg) = Cao (cm) - 100.
- Công thức Bruck: Công thức này được người Nhật Bản sử dụng.
Cân nặng “lý tưởng” (kg) = ( Chiều cao (cm) – 100) x 0,9 - Công thức Lorentz:
Cân nặng "lý tưởng" (kg) = - Công thức Bongard:
Cân nặng "lý tưởng" (kg) =
- Công thức của cơ quan bảo hiểm Mỹ:
Cân nặng "lý tưởng" (kg) = 50 + 0,75 x (Cao - 150)
Các công thức này đều có giá trị riêng của chúng, nhưng có nhược điểm là ở một người nhất định, chúng cho những trị số khác nhau về cân nặng "nên có", do đó khi dùng cần nhất quán.
Năm 1995, Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng "chỉ số khối cơ thể" (Body Mass Index, BMI), trước đây gọi là chỉ số Quetelet, để nhận định về tình trạng dinh dưỡng.
BMI =
Người ta nhận thấy cả tình trạng quá nhẹ cân và quá thừa cân đều liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Chỉ số BMI có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ khối mỡ trong cơ thể, do đó là một chỉ số được Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị để đánh giá mức độ gầy béo.
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 32 Bảng 2.7. Phân loại tình trạng dinh dưỡng dành cho người trưởng thành.
Bảng 2.8. Đánh giá dinh dưỡng theo WHO và IDI&WPRO
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 33 Các ngưỡng về chỉ số BMI vẫn thích hợp với những người già đến 69 tuổi, còn từ 70 tuổi trở lên nếu BMI > 30 mà không có biểu hiện của các bệnh mạn tính đang tiến triển thì vẫn nên duy trì cân nặng ở mức độ đó, không cần điều chỉnh để giảm béo.