CHƯƠNG 3 CÁC TƯ THẾ CHĂM SÓC TRỊ LIỆU CÁC TƯ THẾ CHĂM SÓC TRỊ LIỆU
3.2.4. TIẾN TRÌNH KỸ THUẬT
- Nhận định người bệnh về tình trạng tri giác, tổng trạng và bệnh lý kèm theo.
- Xác định tư thế trị liệu phù hợp và chuẩn bị dụng cụ áp dụng cho tư thế trị liệu.
3.2.4.1. Tư thế nằm ngửa thẳng Chỉ định
- Tư thế trị liệu: sau ngất choáng, sau xuất huyết, bại liệt.
- Cho bệnh nhân hạ huyết áp, chấn thương cột sống, các cấp cứu cơ bản về hô hấp, tuần hoàn như bóp bóng qua mặt nạ, ép tim ngoài lồng ngực.
Chống chỉ định: (Đề phòng chất nôn tràn vào đường hô hấp) - Hôn mê.
- Nôn nhiều.
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 40 Hình 3.1. Tư thế nằm ngửa thẳng.
Kỹ thuật
Người bệnh nằm thẳng lưng, chân duỗi thẳng, đầu có gối hoặc không gối, bàn chân được giữ thẳng góc với cẳng chân.
Cách kê gối:
- Lót gối ở đầu, cổ (gối mềm).
- Nơi thắt lưng (nếu người bệnh gầy).
- Khoeo chân.
Nếu người bệnh liệt
+ Cho người bệnh nằm gối đỡ cả đầu và vai + Lót vòng cao su có phủ vải dưới mông + Chêm gối dưới chân
+ Đặt gối dài dọc theo 2 bên chân
+ Dùng hộp gỗ (đã bao cho êm), đỡ bàn chân thẳng góc với cẳng chân + Lót 2 gối dưới 2 cánh tay người bệnh
+ Giữ ngón tay người bệnh hơi co lại bằng cách cho người bệnh nắm giữ cuộn băng
+ Dùng vòng gòn lót gót chân hay cho gót chân ló ra ngoài mí đệm 3.2.4.2. Tư thế nằm ngửa đầu thấp
Chỉ định
- Đề phòng ngất choáng.
- Ngất choáng (người bệnh nằm trong thời gian ngắn).
- Sau khi chọc dò tủy sống (nằm ngiêng đầu thấp sau 10-15 phút mới nằm ngữa).
- Kéo xương trong trường hợp gãy xương chân.
Chống chỉ định: Bệnh nhân hen phế quản, tăng huyết áp, tăng áp lực nội sọ.
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 41 Hình 3.2. Tư thế nằm ngửa đầu thấp
Kỹ thuật:
- Nằm đầu không gối, thân mình nằm thẳng trên giường.
- Thân giường được quay hoặc kê cao tùy theo chỉ định của bác sĩ.
- Cần giữ ấm người bệnh bằng mền.
3.2.4.3. Tư thế nằm đầu hơi cao Chỉ định
- Bệnh hô hấp, tim, gan.
- Dưỡng bệnh người già.
- Thuận lợi cho tuần hoàn tĩnh mạch từ não trở về, giảm phù não, giúp người bệnh dễ thở hơn, giảm được nguy cơ bị trào ngược và sặc vào phổi. Đặc biệt thích hợp cho người bệnh chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, tăng áp lực nội sọ, các bệnh về hô hấp – tim mạch. Nói chung đây là tư thế thích hợp cho đa số các bệnh nhân cấp cứu nếu không có rối loạn huyết động.
Chống chỉ định
- Rối loạn về nuốt, tụt huyết áp - Hôn mê, sau gây mê.
Hình 3.3. Tư thế nằm đầu hơi cao
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 42 Kỹ thuật:
- Quay đầu giường, chêm gối cho người bệnh nằm ngửa đầu cao 15- 30 độ.
- Chêm gối ở khuỷu.
- Dùng hai gối để đỡ hai tay.
3.2.4.4. Tư thế nửa nằm nửa ngồi (tư thế Fowler) Chỉ định
- Khó thở trong các bệnh hô hấp (HPQ, viêm phổi, khí phế thủng...) - Bệnh tim.
- Sau một số phẫu thuật ở bụng (nếu có ống dẫn lưu, cho người bệnh nằm nghiêng về phía ống).
- Thời kỳ dưỡng bệnh, nhất là đối với người lớn tuổi.
Tư thế này có tác dụng làm cơ hoành dễ di động hơn, giảm đè ép của các tạng trong ổ bụng lên khoang ngực, giảm tuần hoàn tĩnh mạch trở về tim nên thuận lợi cho các cấp cứu: phù phổi cấp, suy tim, khó thở cấp.
Hình 3.4. Tư thế nửa nằm nửa ngồi (tư thế Fowler).
Kỹ thuật:
- Quay đầu giường lên cao 45 độ.
- Quay chân giường lên cao trên gối để người bệnh khỏi tuột.
- Giữ người bệnh thẳng lưng.
Cách kê gối
- Cho người bệnh nằm gối đỡ cả đầu và vai.
- Lót vòng cao su dưới mông nếu cần.
- Đỡ bàn chân thẳng góc với cẳng chân.
- Lót gối dưới tay hoặc cho người bệnh ôm gối.
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 43 Lưu ý: trường hợp bệnh tim nặng hoặc hen, người bệnh ngủ ở thế ngồi: dùng gối chồng trên bàn để người bệnh đặt tay và dựa ngực vào gối, ngủ cho thoải mái.
3.2.4.5. Tư thế nằm sấp Chỉ định
- Chướng hơi ở bụng, người bệnh khó ngủ.
- Người bệnh bị mảng mục vùng lưng, cùng cụt.
Chống chỉ định: Bệnh nhân có thai, chấn thương vùng lồng ngực...
Kỹ thuật
Người bệnh nằm sấp, mặt nghiêng một bên, hai tay để hai bên đầu hoặc thẳng theo thân mình.
Cách lật sấp người bệnh
Cách 1
- Cho người bệnh nằm một bên giường.
- Điều dưỡng đứng về phía sẽ lật người bệnh qua (phía đối diện với bên mép giường người bệnh nằm).
- Tay gần người bệnh đặt sát vào thân mình người bệnh. Chân xa chéo lên chân gần (Nếu người bệnh nặng cân quá cần có thêm người phụ).
- Để gối trên giường ngang tầm bụng người bệnh.
- Điều dưỡng: một tay nắm bả vai, một tay đặt ở mông, đặt người bệnh nghiêng và nhẹ nhàng đặt người bệnh nằm sấp.
Cách 2
- Cho người bệnh nằm một bên giường.
- Đặt hai tay người bệnh dưới lưng.
- Điều dưỡng luồn cánh tay dưới mình người bệnh, một tay qua tới vai bên kia, một tay qua mông kéo người bệnh về phía điều dưỡng, nhẹ nhàng lật nghiêng người bệnh và đặt nằm sấp.
Cách kê gối
+ Dùng gối đỡ mặt và phần trên ngực người bệnh.
+ Sửa lại gối ở bụng.
+ Chêm gối từ phía dưới đầu gối đến cổ chân.
3.2.4.6. Tư thế nằm nghiêng sang phải hoặc trái Chỉ định
- Nghỉ ngơi.
- Bệnh nhân sau mổ thận, đường tiêu hóa có dẫn lưu ở bụng
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 44 - Bệnh viêm màng phổi (nằm nghiêng về phía viêm)
- Thăm khám hậu môn, đo nhiệt độ hậu môn.
- Thụt tháo đại tràng.
Tư thế này có tác dụng giải phóng đường thở, tránh bị tụt lưỡi, dẫn lưu đờm giải ra ngoài, hạn chế nguy cơ hít vào phổi đặc biệt trong trường hợp bệnh nhân nôn. Thường áp dụng cho người bệnh có rối loạn ý thức nhưng chưa có rối loạn hô hấp, tuần hoàn.
Hình 3.5. Tư thế nằm nghiêng sang phải hoặc trái Kỹ thuật:
Người bệnh nằm nghiêng sang phải hoặc trái, đầu có gối hoặc không, chân trên co nhiều, chân dưới hơi co hoặc duỗi thẳng.
Cách lật người bệnh nằm nghiêng:
Cách 1:
- Cho người bệnh nằm một bên giường.
- Điều dưỡng đứng về phía sắp lật người bệnh (phía đối diện với bên mép giường người bệnh nằm).
- Tay gần người bệnh dang xa thân mình, tay xa để trên bụng. Chân xa tréo lên chân gần.
- Điều dưỡng một tay ở vai, một tay ở mông lật người bệnh về phía mình đứng.
Cách 2: điều dưỡng đặt :
- Tay xa người bệnh dang xa thân mình, tay gần để trên bụng.
- Chân gần tréo lên chân xa.
- Điều dưỡng luồn cánh tay dưới mình người bệnh, một tay qua tới vai bên kia, một tay qua mông kéo người bệnh về phía điều dưỡng, nhẹ nhàng lật người bệnh qua bên kia.
Cách kê gối:
Giáo trình môn học: Giáo trình kỹ năng y khoa, NXB Y học, Hà Nội
Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Đức Hinh, PGS.TS. Lê Thu Hoà 45 + Chêm gối dưới đầu, cổ, vai.
+ Cho người bệnh ôm gối.
+ Chêm gối sau lưng.
+ Chân trên co cao có lót gối, chân dưới hơi co.